Ứng dụng tu tập khổ đế theo kinh Trung bộ và Abhidhamma

...cho dù Tam tạng kinh điển ghi chép rất nhiều về lời dạy của đức Phật, nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ những lời dạy ấy qua một bài kinh, hay một đoạn kinh, hoặc là một câu kinh, từ đó có được kim chỉ nam rồi ứng dụng tu tập trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Đức Phật , Ngài thuyết pháp bằng nhiều hình thức khác nhau có cơ bản, có thâm sâu, nhằm giúp người tiếp cận – nghe, hiểu và thực hành để đạt được sự giải thoát

ỨNG DỤNG TU TẬP KHỔ ĐẾ 

THEO KINH TRUNG BỘ VÀ ABHIDHAMMA

Biên soạn Luận văn : ĐĐ Thích Tịnh Tuệ
Học viện PGVN.Tp-HCM
( Chơn Minh sưu tầm & Trình bày lại)

               Đối với người cư sĩ hay người xuất gia mới tìm hiểu về đạo Phật, nếu họ nhìn vào Tam tạng kinh điển ghi chép lại lời mà đức Phật dạy, chắc chắn sẽ rất hoang mang. Vì số lượng kinh điển này quá nhiều và bản thân họ không thể học hỏi hết được trong điều kiện trí tuệ còn yếu kém. Thật vậy, cho dù Tam tạng kinh điển ghi chép rất nhiều về lời dạy của đức Phật, nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ những lời dạy ấy qua một bài kinh, hay một đoạn kinh, hoặc là một câu kinh, từ đó có được kim chỉ nam rồi ứng dụng tu tập trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Đức Phật , Ngài thuyết pháp bằng nhiều hình thức khác nhau có cơ bản, có thâm sâu, nhằm giúp người tiếp cận – nghe, hiểu và thực hành để đạt được sự giải thoát.  

  1. 1. Định nghĩa khổ đế theo Kinh Trung Bộ và Abhidhamma
  • Theo Đế Phân Biệt Tâm Kinh (Saccavibhaṅgacittasutta) - số 141, thuộc Kinh Trung Bộ (Majjhimanikāya) có định nghĩa về khổ đế (dukkhasacca) hay khổ thánh đế (dukkha-ariyasacca): “Và này chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh Đế? Sanh là khổ, già là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.” [7, 3, tr.470]

Định nghĩa này cho thấy rằng, khổ đế là sự sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, cầu không được và sự chấp thủ năm uẩn.

  • Trong Bộ Phân Tích (Vibhaṅga) - bộ thứ hai của Tạng Abhidhamma có khá nhiều định nghĩa về khổ đế, người viết chỉ trích dẫn một trường hợp tiêu biểu: “Các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba căn thiện cảnh lậu, các pháp thiện cảnh lậu còn lại, các dị thục cảnh lậu của pháp thiện và bất thiện, các pháp thành tố phi thiện phi bất thiện phi quả nghiệp, tất cả sắc. Đây là khổ đế.” [14, 1, tr.171]

Với định nghĩa này, Abhidhamma cho thấy rằng không chỉ các phiền não, các pháp bất thiện, mà còn cả ba căn thiện cảnh lậu, các pháp thiện cảnh lậu và các pháp phi thiện phi bất thiện lẫn sắc pháp đều là khổ đế.

  1. Phân tích khổ đế theo Kinh Trung Bộ và Abhidhamma
    2.1. Phân tích khổ đế theo Kinh Trung Bộ:
       Trung-bo 6.jpg (27 KB)
    Tôn tượng Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni
           Với cách định nghĩa trên, Kinh Trung Bộ phân tích về khổ đế (dukkhasacca) như sau:
           1. Sanh là khổ (jātipi dukkhā). Sanh là sự ra đời của một chúng sanh ở một cảnh giới nào đó, là sự có                  mặt của các uẩn do bị nghiệp chi phối ở một thế giới nào đó. Liên quan đến sự sanh, Đại Kinh Sư Tử                      Hống (Mahāsīhanādasutta) - số 12 [5, 1, tr. 74A] cho biết, có bốn loại sanh chủng:             
                + Noãn sanh (aṇḍaja) là loài chúng sanh phá vỏ trứng mà sanh ra như gà, vịt, ngỗng…
                + Thai sanh (jalābuja) là loài chúng sanh phá màng da mỏng che chỗ kín mà sanh ra như loài người và                                                   một số loài động vật như trâu, bò, cọp, beo…
                + Thấp sanh (saṃsedaja) là loài chúng sanh được sanh ra từ nơi ẩm thấp như ruồi, muỗi, sâu bọ…
               + Hóa sanh (opapātika) là các chúng sanh như chư thiên, loài người thời sơ kiếp và một số chúng sanh                                                     loài đọa xứ, như chúng sanh ngạ quỷ, địa ngục...
          2.  Già là khổ (jarāpi dukkhā). Già là sự hủy hoại của cơ thể như tóc bạc, da nhăn, lưng còm, răng rụng,                 mắt mờ, tai điếc, quên trước quên sau, đi đứng khó khăn…
         3.  Bệnh là khổ (byādhipi dukkho). Song song với sự già là những chứng bệnh phát sanh như huyết áp, đái tháo đường, đau xương khớp…  làm cho cơ thể sớm bị tiều tụy và suy yếu rất nhanh. Nguyên nhân phát sanh bệnh: Ngoài việc già yếu, thời tiết và vật thực còn do nghiệp, như trong Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt (Cūlakammavibhaṅgasutta) - số 135 cho biết, người có nhiều bệnh tật là quả của nghiệp hay đánh đập, giết hại chúng sanh khác [7, 3, tr.401]. 
         4. Chết là khổ (maraṇampi dukkhaṃ). Chết là sự từ bỏ xác thân hiện có, sự vắng mặt nơi cảnh giới mà mình đang hiện hữu. Sự chết chắc chắn sẽ đến khi người ta bị già và bị bệnh, như trong kinh có câu kệ ngôn: “Sắc này bị suy già Ổ tật bệnh, mỏng manh Nhóm bất tịnh đổ vỡ Chết chấm dứt mạng sống.”[9, tr.122] Đây là điều mà bất cứ loài chúng sanh nào cũng sợ hãi và không mong muốn, nhưng họ không có cách nào thoát khỏi sự chết được. Vì thế, khi sự chết đến, chúng sanh rất sợ hãi và đau khổ. Có đoạn kinh cho biết về bốn sự sợ hãi của chúng sanh, trong đó có sợ hãi về sự chết: “Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ hãi này. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sanh, sợ hãi về già, sợ hãi về bệnh, sợ hãi về chết.”[9, 2, tr.45]

       - Sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ (sokaparidevadukkhadoma-nassupāyāsāpi dukkhā).

  • Sầu (soka) là sự buồn rầu, sự lo âu khi bệnh tật đeo bám suốt một thời gian dài.
  • Bi (parideva) là sự than van, sự than khóc, khi không may gặp phải tai nạn.
  • Khổ (dukkha) là sự không thoải mái của thân, như khi bị đánh đập, bị té ngã làm cho thân thể bị đau đớn.
  • Ưu (domanassa) là sự bứt rứt của tâm khi gặp nghịch cảnh, như khi nghe người khác chửi mắng hoặc nói những điều không tốt đẹp về mình.
  • Não (upāyāsa) là sự thất vọng, sự tuyệt vọng khi gặp trở ngại trong cuộc sống do bệnh tật, tai nạn hay thiên tai.

Cầu bất đắc là khổ (yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ). Nghĩa là sự mong cầu nhưng không thể đạt được theo ý muốn làm cho mình bị đau khổ, như là mong cho mình đừng bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối.
- Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ (saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā). Năm thủ uẩn là sự chấp thủ đối với năm uẩn: sắc uẩn (rūpakkhandha), thọ uẩn (vedanākhandha), tưởng uẩn (saññākhandha), hành uẩn (saṅkhārakkhandha) và thức uẩn (viññāṇakkhandha).
Thí dụ: Khi chấp về sắc uẩn, trong Tiểu Kinh Giáo Giới La-Hầu-La (Cūlarāhulovādasutta) - số 147 có đề cập: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”[7, 3, tr.519].Do sự chấp giữ như vậy, nên khi sắc uẩn cũng như bốn uẩn còn lại thay đổi bởi sự già, bệnh, chết chi phối làm chúng ta đau khổ. Trên thực tế, sắc uẩn cũng như các danh uẩn còn lại đều là pháp hữu vi do duyên sanh, không có gì là của ta, là ta, là tự ngã của ta.
         2.2. Phân tích khổ đế theo Abhidhamma:
Dựa theo định nghĩa khổ đế trong Bộ Phân Tích - Tạng Abhidhamma ở phần trên, nếu trình bày khái quát về khổ đế thì bao gồm tất cả những gì đang tồn tại trong tam giới, ngoại trừ tập đế (samudayasacca) là tâm sở tham, diệt đế (nirodhasacca) là Niết-bàn và đạo đế (maggasacca) là bát chi đạo trong 4 hoặc 20 tâm đạo.
Như vậy, khổ đế nếu phân tích theo pháp thực tính là 81 tâm hiệp thế (54 tâm dục giới, 15 tâm sắc giới, 12 tâm vô sắc giới) cùng với 51 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 13 tâm sở bất thiện, 25 tâm sở tịnh hảo) và 28 sắc pháp [3, tr.400].
Tuy nhiên, nếu trình bày chi tiết về khổ đế theo định nghĩa trên thì cần phải phân tích từng ý nhỏ. Ở đây, người viết chỉ phân tích bốn ý nhỏ tiêu biểu trong định nghĩa như sau:
- Các phiền não còn lại gọi là khổ đế. Theo Đầu đề nhị (dukamātikā) trong Tụ phiền não (kilesagocchaka) cho biết, có 10 loại phiền não tương ứng với 10 tâm sở bất thiện: Tham (lobha) là tâm sở tham, sân (dosa) là tâm sở sân, si (moha) là tâm sở si, mạn (māna) là tâm sở ngã mạn, kiến (diṭṭhi) là tâm sở tà kiến, hoài nghi (vicikicchā) là tâm sở hoài nghi, hôn trầm (thīna) là tâm sở hôn trầm, trạo cử (uddhacca) là tâm sở trạo cử, vô tàm (ahirika) là tâm sở vô tàm, vô quý (anottappa) là tâm sở vô quý [13, 319].

Trong mười phiền não này, khi hành giả tu tập và chứng đắc được ba thánh quả bậc thấp là Dự lưu quả (Sotāpattiphala), Nhất lai quả (Sakadāgāmiphala), Bất lai quả (Anāgāmiphala) thì chúng sẽ bị đoạn trừ tận gốc từng phần và cho đến khi chứng đắc được A-la-hán quả (Arahattaphala) thì chúng bị đoạn trừ một cách trọn vẹn.

Thí dụ: Bậc thánh Dự lưu chỉ đoạn trừ được phiền não kiến là tâm sở tà kiến - sanh trong bốn tâm tham tương ưng tà kiến và phiền não hoài nghi là tâm sở hoài nghi - sanh khởi trong tâm si câu hữu với xả tương ưng hoài nghi. Do đó, các phiền não còn lại thuộc về khổ đế mà hành giả cần phải biết và tiếp tục nỗ lực tu tập để đoạn trừ là tám loại phiền não còn lại.

Vì các phiền não này thuộc pháp hiệp thế và bị đoạn trừ theo từng phần như vậy, nên mới có định nghĩa: “Các phiền não còn lại là khổ đế”.

- Các pháp bất thiện còn lại là khổ đế. Theo Đầu đề tam (tikamātikā) trong Tam đề thiện (kusalatika) có câu pháp “Các pháp bất thiện” cho biết rằng, các pháp bất thiện là 12 tâm bất thiện (8 tâm tham, 2 tâm sân, 2 tâm si) cùng với 27 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha và 14 tâm sở bất thiện) [13, tr.129-139].

Đối với 12 tâm bất thiện cùng các tâm sở phối hợp, khi hành giả tu tập đoạn trừ được một cách rốt ráo thì sẽ trở thành bậc thánh A-la-hán. Tuy nhiên trong quá trình tu tập, hành giả sẽ đoạn trừ dần các tâm bất thiện cùng các tâm sở phối hợp khi chứng được tuần tự các thánh quả như Dự lưu quả, Nhất lai quả và Bất lai quả.

Thí dụ: Bậc thánh Bất lai chỉ đoạn trừ được bốn tâm tham tương ưng tà kiến, hai tâm sân và tâm si câu hữu với xả tương ưng hoài nghi cùng với các tâm sở phối hợp. Các pháp bất thiện còn lại thuộc về khổ đế mà hành giả cần phải biết và tiếp tục nỗ lực tu tập để đoạn trừ là bốn tâm tham bất tương tương ưng tà kiến và tâm si câu hữu với xả tương ưng trạo cử cùng với những tâm sở phối hợp.

Do 12 tâm bất thiện này thuộc pháp hiệp thế và bị đoạn trừ theo từng phần của các bậc thánh như vậy, nên mới có định nghĩa “Các pháp bất thiện còn lại là khổ đế”.

- Các pháp thiện cảnh lậu còn lại là khổ đế. Theo Đầu đề tam, trong Tam đề thiện có câu pháp “Các pháp thiện (kusalā dhammā)” cho biết rằng, các pháp thiện là 17 tâm thiện hiệp thế (8 tâm thiện dục giới, 5 tâm thiện sắc giới, 4 tâm thiện vô sắc giới) cùng với 38 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 25 tâm sở tịnh hảo) và 20 tâm thiện siêu thế (tâm đạo) cùng với 36 tâm sở phối hợp (trừ hai tâm sở vô lượng phần) [13, tr.24-120].

Tuy nhiên nếu dựa theo định nghĩa “Các pháp thiện cảnh lậu còn lại là khổ đế” trong trường hợp này thì các pháp thiện chỉ là 17 tâm thiện hiệp thế cùng với 38 tâm sở phối hợp.

Vì theo Đầu đề nhị trong Tụ lậu (āsavagocchaka) cho biết rằng, bốn loại lậu hoặc: Dục lậu và hữu lậu là tâm sở tham, kiến lậu là tâm sở tà kiến, vô minh lậu là tâm sở si chỉ biết được 17 tâm thiện hiệp thế cùng với các tâm sở phối hợp [13, tr.287-289].

Thí dụ: Khi tâm thiện dục giới sanh khởi khiến người A làm các thiện sự bằng thân hoặc lời nói như cung kính, phục vụ, chia sẻ những điều hay lẽ phải đến người khác và khi tâm tham tà kiến cùng với si sanh khởi biết được việc này thì chấp rằng đây là ta làm, là của ta.  

- Tất cả sắc là khổ đế. Theo Abhidhamma thì sắc pháp có 28 thứ và được phân ra thành hai loại là sắc tứ đại (mahābhūtarūpa) (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại) và 24 sắc y đại sinh (upādāyarūpa) [4, 2, tr.7-16]

Các sắc pháp là thành phần vô tri giác, nhưng chúng được liệt kê vào khổ đế là vì sắc pháp cũng thuộc pháp hiệp thế.

  1. Cách thức tu tập khổ đế theo Kinh Trung Bộ và Abhidhamma

3.1. Tu tập khổ đế theo Kinh Trung Bộ

Theo Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasutta) - số 10 có đoạn trình bày phương pháp tu tập về Tứ đế như sau: “Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự Thật? Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo như thật biết: “Ðây là Khổ”; như thật biết: “Ðây là Khổ tập”; như thật biết: “Ðây là Khổ diệt”; như thật biết: “Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt”.”[5, 1, tr.62]

Câu “Vị Tỷ-kheo như thật biết: “Đây là Khổ”” chỉ cho phương pháp tu tập về Khổ đế như sau:

- Thứ nhất, hành giả tu tập quán thấy rằng sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, cầu không được và sự chấp thủ đối với năm uẩn đều là những phiền muộn, lo âu, sợ hãi trong cuộc sống mà người ta nhầm lẫn đây là hạnh phúc.

Thí dụ: Khi trong gia đình có một thành viên mới vừa chào đời, họ rất vui mừng và sau đó là những buổi tiệc chúc tụng như đầy tháng, thôi nôi… làm cho mọi người quên rằng, chính do có sự sanh mà hàng loạt những đau khổ khác sẽ xuất hiện đó là sự già, sự bệnh và sự chết v.v… Hoặc khi những ngày, tháng, năm trôi qua, người ta rất hân hoan vì nghĩ rằng năm nay cháu mình, con mình, hay bản thân mình có được tuổi thọ chừng này, chừng kia rồi tổ chức sinh nhật chúc mừng, khiến họ quên rằng chính những năm tháng trôi qua đó đã, đang và sẽ đưa mình tiến gần đến khổ đau bởi sự già, sự bệnh và sự chết.

Khi quán thấy như vậy, hành giả không còn đắm chìm trong đời sống hạnh phúc tạm bợ của thế gian, mà từ đó nỗ lực tu tập, không còn chấp thủ để đạt được sự giải thoát.

- Thứ hai, hành giả tu tập quán thấy rằng sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, cầu không được và sự chấp thủ đối với năm uẩn đều do duyên sanh, như trong kinh có đề cập: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt.”[8, 2, tr.55-56] hoặc nói cách khác “Bởi vì có A nên B phát sanh, bởi vì có B nên C phát sanh. Khi nào không có A tất nhiên không có B. Khi nào không có B thì C cũng không có.”[1, tr.416], hoàn toàn không có cái gì là ta sanh, ta già, ta bệnh hay ta chết...

Khi quán thấy như vậy, hành giả đã thấy được Lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda) và khi nỗ lực tu tập sẽ đạt được sự giải thoát như trong Tượng Tích Dụ Đại Kinh (Mahāhatthipadopamasutta) - số 29 có đề cập: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi.”[5, 1, tr.191]

- Thứ ba, hành giả có thể lấy một trong những khái niệm tục đế thuộc về khổ đế trên để tu tập:

 Quán về sanh là khổ: Hành giả nghĩ đến đời sống quá khứ hoặc tương lai của mình. Trong suốt quá trình luân hồi, cơ hội để được sanh làm người rất khó. Ví như hình ảnh con rùa mù được đề cập trong Kinh Hiền Ngu (Bālapaṇḍitasutta) – 129: Trên mặt biển, một khúc cây có lỗ hỗng vừa với cái đầu của con rùa đang trôi nổi bồng bềnh. Tại đấy, con rùa mù một trăm năm mới từ đáy biển trồi lên một lần. Con rùa mù may mắn gặp được khúc cây đó, đưa đầu vào lỗ hổng [7, 3, tr. 346-347]. Qua thí dụ đó, hành giả thấy kinh cảm về đời sống luân hồi và cố gắng nỗ lưc tu tập. 

 Quán về già là khổ: Hành giả suy xét về sự già và tu tập theo như trong kinh: “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”.

 Quán về bệnh là khổ: Hành giả thấy được thân này là ổ bệnh tật và tu tập: “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”.

 Quán về chết là khổ: Hành giả nhìn thấy sự chết của người khác và tu tập về sự chết theo lời kinh: “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết.”

Cách tu tập quán về già, bệnh và chết này giúp hành giả từ bỏ được sự kiêu mạn về tuổi trẻ, sự kiêu mạn về sức khỏe và sự kiêu mạn về tuổi thọ để thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã và nỗ lực tu tập đạt được giải thoát [9, 2, tr.421-427].

 Hoặc hành giả có thể chọn đề mục quán về năm uẩn để tu tập nhằm giúp mình từ bỏ sự chấp thủ theo cách hướng dẫn trong Đại Kinh Giáo Giới La Hầu La (Mahārāhulovādasutta) - số 62.

Thí dụ: Khi tu tập suy xét về sắc uẩn, hành giả quán: “Cái này không phải của ta, ta không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của ta.”[6, 2, tr.420] Bốn uẩn còn lại cũng có phương pháp tu tập tương tự.  

3.2. Tu tập khổ đế theo Abhidhamma

Có nhiều cách tu tập khổ đế trong Abhidhamma được trình bày theo đề mục tu tập thiền quán. Ở đây, người viết xin chia sẻ ba phương pháp tu tập theo Tam tướng gọi là Vô thường tùy quán, Khổ tùy quán và Vô ngã tùy quán [4, 2, tr.136] như sau:

- Vô thường tùy quán: Hành giả quán thấy khổ đế chỉ là sự sanh diệt của danh pháp và sắc pháp, tất cả đều là vô thường. Hoặc nếu trình bày chi tiết thì phân ra thành ba trường hợp:

 Thứ nhất, hành giả quán thấy rằng sự sanh diệt của 81 tâm hiệp thế (54 tâm dục giới, 15 tâm sắc giới, 12 tâm vô sắc giới) cùng với 51 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 13 tâm sở bất thiện, 25 tâm sở tịnh hảo) thông qua ba giai đoạn là sanh, trụ, diệt, đều do duyên trợ tạo, chúng là vô thường.

 Thứ hai, hành giả quán thấy sự sanh diệt của 28 sắc pháp, trong đó có sắc tứ đại là đất, nước, lửa, gió, và 24 sắc y đại sinh thông qua bốn giai đoạn là sanh, tiến, dị, diệt, đều do duyên trợ tạo, chúng cũng là vô thường.

 Thứ ba, hành giả quán để thấy được sự sanh diệt của từng trạng thái tâm. Như khi tâm tham hay tâm sân hoặc tâm si… sanh khởi, hành giả nhận biết được nó và thấy rằng nó là vô thường. Trong phần sắc pháp, hành giả cũng có thể phân ra từng thành phần như là đất, nước, lửa và gió … để tu tập. 

Cách tu tập này sẽ giúp hành giả phát triển tuệ quán và thấy được mọi thứ là vô thường. Nhờ thấy được sự vô thường của vạn vật trên thế gian nên hành giả dễ dàng buông bỏ mọi thứ mà mình đang có theo sự chế định, như tài sản, vợ chồng, con cháu và những gì mà mình thương yêu quý mến, bởi đó là tâm tham ái và nỗ lực tu tập để đạt được sự giải thoát.

- Khổ tùy quán: Hành giả quán thấy rằng bất cứ một sự sanh diệt nào, một sự thay đổi nào của danh pháp và sắc pháp hoặc 81 tâm hiệp thế cùng với 51 tâm sở phối hợp và 28 sắc pháp đều là khổ. Điển hình như khi chúng ta đang đi và bị mọi thì đứng lại hoặc ngồi xuống; khi ngồi lâu lại bị đau lưng thì chúng ta lại đứng lên hoặc nằm xuống..., bất cứ có một thay đổi nào đều có sự xuất hiện của khổ.

Trên đây là phần trình bày về phương pháp tu tập khổ tùy quán một cách tổng quát, hành giả có thể phân ra nhiều cách tu tập khác nhau như ở phần tu tập Vô thường tùy quán.

Nhờ sự tu tập Khổ tùy quán, hành giả thấy được tất cả những gì tồn tại trên thế gian đều là khổ. Vì thế, hành giả không đắm mình trong việc hưởng thụ dục lạc và nỗ lực tu tập để thoát khỏi khổ đau. Giống như con nai thấy mình đang bị mắc bẫy và cố gắng vùng vẫy để thoát thân.

- Vô ngã tùy quán: Hành giả quán tổng quát hoặc chi tiết từng trạng thái tâm, từng yếu tố sắc pháp để thấy rằng, sự sanh diệt của 81 tâm hiệp thế cùng với 51 tâm sở và 28 sắc pháp đều là vô ngã, hoàn toàn không có ta, không có cái của ta.

Phương pháp tu tập này giúp hành giả dẹp bỏ được sự chấp thủ đối với danh và sắc hay đối với thân năm uẩn và nỗ lực tu tập đạt được sự giải thoát. 

3. KẾT LUẬN

Qua đề tài: “ỨNG DỤNG TU TẬP KHỔ ĐẾ THEO KINH TRUNG BỘ VÀ ABHIDHAMMA”, chúng ta thấy rằng, nếu một hành giả biết được cả hai phương pháp tu tập sẽ giúp ích rất nhiều trong việc ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày.
- Nếu thấy mình thích hợp với việc tu tập bằng cách dùng những khái niệm tục đế (sammutisacca) theo Tạng Kinh như sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ hay chết là khổ v.v… thì hành giả áp dụng phương pháp tu tập này để vận dụng vào trong đời sống và nhờ đó giúp mình thấy được sự vô thường, khổ và vô ngã và nỗ lực hành trì pháp để đạt được sự giải thoát.
- Nếu thấy mình thích hợp với việc tu tập bằng cách dùng những khái niệm chân đế (paramatthasacca) theo Abhidhamma như tâm (citta), tâm sở (cetasika), sắc pháp (rūpa) hay Niết-bàn (nibbāna), hành giả áp dụng cách thức tu tập này để đưa vào trong đời sống thực tiễn và nhờ đó giúp mình thấy được danh và sắc hay là năm uẩn mà người ta cho rằng là ta, là của ta, là tự ngã của ta đều là vô thường, khổ, vô ngã và nỗ lực thực hành pháp để đạt được sự giải thoát.
Cũng từ bài viết, chúng ta thấy được sự gần gũi và sự liên quan mật thiết với nhau giữa Tạng Kinh và Tạng Abhidhamma. Điển hình như trong trường hợp này, từ định nghĩa và sự phân tích cho đến phương pháp tu tập, trong hai Tạng giáo lý chỉ khác nhau đôi chút:
- Tạng Kinh dùng thuần túy khái niệm tục đế như sanh, già, bệnh, chết để diễn đạt vấn đề, nhằm giúp người nghe hiểu được thông qua những gì mà tai nghe và mắt thấy.

- Tạng Abhidhamma dùng thuần túy khái niệm chân đế như tâm, tâm sở, sắc pháp, Niết-bàn để diễn đạt vấn đề, nhằm giúp người nghe hiểu được thông qua kinh nghiệm hay trải nghiệm của bản thân.

Tuy nhiên, cả hai Tạng đều hỗ trợ cho nhau nhằm đưa ra nhiều phương pháp để giải quyết một vấn đề và làm sáng tỏ nội dung cần tìm hiểu. Đặc biệt trong bài viết này còn cho thấy rằng, dù có sự khác nhau đôi chút về cách định nghĩa, phương pháp phân tích và ứng dụng tu tập, nhưng cả hai Tạng đều có cùng một mục đích là giúp độc giả, các nhà nghiên cứu thấy được khổ đế và nỗ lực tu tập để thoát khỏi khổ đau.

Với những lợi ích như vừa nêu, việc cho ra đời những bài viết có sự kết hợp giữa Tạng Kinh và Abhidhamma hoặc Tạng Luật và Abhidhamma mà hiện đang còn khan hiếm là điều rất cần thiết. ( Còn Tiếp)

Bình luận
| Mới nhất