PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

THERAVĀDA

--o-O-o--

  TẠNG VÔ TỶ PHÁP

(ABHIDHAMMAPIṬAKA)

 

BỘ THỨ NHẤT

 BỘ PHÁP TỤ

(DHAMMASAṄGANĪ)

 CẢO BẢN

 

Sư cả Tịnh Sự - Mahāthero Saṅtakicco

Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

 

Năm Ất Mão

Phật lịch 2519 - Dương lịch 1975

~~~~~~~~~~

 NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

2012

 ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBHUDDHASSA

 CUNG KÍNH ĐỨC THẾ TÔN, ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI

Phần A. MẪU ĐỀ (Mātikā)

HAI MƯƠI HAI ĐẦU ĐỀ TAM (Bāvīsati tikamātikā)

1.                

*    Chư pháp thiện, chư pháp bất thiện, chư pháp vô ký.

*    Chư pháp tương ưng lạc thọ, chư pháp tương ưng khổ thọ, chư pháp tương ưng phi khổ phi lạc thọ.

*    Chư pháp dị thục quả, chư pháp dị thục nhân, chư pháp phi quả phi nhân.

*    Chư pháp thành do thủ và cảnh thủ, chư pháp phi thành do thủ mà cảnh thủ, chư pháp phi thành do thủ phi cảnh thủ.

*    Chư pháp phiền toái mà cảnh phiền não, chư pháp phi phiền toái mà cảnh phiền não, chư pháp phi phiền toái và phi cảnh phiền não.

*    Chư pháp hữu tầm hữu tứ, chư pháp vô tầm hữu tứ, chư pháp vô tầm vô tứ.

*    Chư pháp đồng sanh với pháp hỷ, chư pháp đồng sanh với lạc thọ, chư pháp đồng sanh với xả thọ.

*    Chư pháp sơ đạo đoạn trừ, chư pháp ba đạo cao đoạn trừ, chư pháp phi sơ đạo phi ba đạo cao đoạn trừ.

*    Chư pháp hữu nhân sơ đạo đoạn trừ, chư pháp hữu nhân ba đạo cao đoạn trừ, chư pháp phi hữu nhân phi ba đạo cao đoạn trừ.

*    Chư pháp nhân sanh tử, chư pháp nhân đến níp-bàn, chư pháp phi nhân sanh tử và phi nhân đến níp-bàn.

*    Chư pháp hữu học, chư pháp vô học, chư pháp phi hữu học phi vô học.

*    Chư pháp hy thiểu, chư pháp đáo đại, chư pháp vô thượng (cao tột).

*    Chư pháp biết cảnh hy thiểu, chư pháp biết cảnh đáo đại, chư pháp biết cảnh vô thượng (cao tột).

*    Chư pháp ty hạ là pháp bất thiện, chư pháp trung bình, chư pháp tinh lương (vi tế).

*    Chư pháp tà cho quả nhất định, chư pháp chánh cho quả nhất định liên tiếp sát-na, chư pháp bất định.

*    Chư pháp có đạo làm cảnh, chư pháp có đạo, có nhân, chư pháp có đạo làm nhân.

*    Chư pháp sanh tồn, chư pháp phi sanh tồn, chư pháp sẽ sanh.

*    Chư pháp quá khứ, chư pháp hiện tại, chư pháp vị lai.

*    Chư pháp biết cảnh quá khứ, chư pháp biết cảnh vị lai, chư pháp biết cảnh hiện tại.

*    Chư pháp nội phần, chư pháp ngoại phần, chư pháp nội và ngoại phần.

*    Chư pháp biết cảnh nội phần, chư pháp biết cảnh ngoại phần, chư pháp biết cảnh nội và ngoại phần.

*    Chư pháp hữu kiến hữu đối chiếu, chư pháp vô kiến hữu đối chiếu, chư pháp vô kiến vô đối chiếu.

Dứt 22 đầu đề tam

 

 

MỘT TRĂM ĐẦU ĐỀ NHỊ (Dukamātikā)

PHẦN TỤ NHÂN (Hetugocchakaṃ)

2.                                                                                                                                                                                                               

*    Chư pháp nhân, chư pháp phi nhân.

*    Chư pháp hữu nhân, chư pháp vô nhân.

*    Chư pháp tương ưng nhân, chư pháp bất tương ưng nhân.

*    Chư pháp nhân và hữu nhân, chư pháp hữu nhân mà phi nhân.

*    Chư pháp nhân và tương ưng nhân, chư pháp tương ưng nhân mà phi nhân.

*    Chư pháp phi nhân mà hữu nhân, chư pháp phi nhân và vô nhân.

Dứt phần tụ nhân

 

PHẦN NHỊ ĐỀ ĐỈNH (Cūḷantaraduka)

3.                

*    Chư pháp hữu duyên, chư pháp vô duyên.

*    Chư pháp hữu vi, chư pháp vô vi.

*    Chư pháp hữu kiến, chư pháp vô kiến.

*    Chư pháp hữu đối chiếu, chư pháp vô đối chiếu.

*    Chư pháp sắc, chư pháp phi sắc.

*    Chư pháp hiệp thế, chư pháp siêu thế.

*    Chư pháp cũng có tâm biết đặng, chư pháp cũng có tâm không biết đặng.

Dứt phần nhị đề đỉnh

 

PHẦN CHÙM LẬU (Āsavagocchaka)

4.                

*    Chư pháp lậu, chư pháp phi lậu.

*    Chư pháp cảnh lậu, chư pháp phi cảnh lậu.

*    Chư pháp tương ưng lậu, chư pháp bất tương ưng lậu.

*    Chư pháp lậu và cảnh lậu, chư pháp cảnh lậu mà phi lậu.

*    Chư pháp lậu và tương ưng lậu, chư pháp tương ưng lậu mà phi lậu.

*    Chư pháp bất tương ưng lậu mà cảnh lậu, chư pháp bất tương ưng lậu mà phi cảnh lậu.

Dứt phần chùm lậu

 

PHẦN TỤ TRIỀN (Saṅyojanagocchaka)

5.                

*    Chư pháp triền, chư pháp phi triền.

*    Chư pháp cảnh triền, chư pháp phi cảnh triền.

*    Chư pháp tương ưng triền, chư pháp bất tương ưng triền.

*    Chư pháp triền và cảnh triền, chư pháp cảnh triền mà phi triền.

*    Chư pháp triền và tương ưng triền, chư pháp tương ưng triền mà phi triền.

*    Chư pháp bất tương ưng triền và cảnh triền, chư pháp bất tương ưng triền mà phi cảnh triền.

Dứt phần tụ triền

 

 

PHẦN TỤ (CHÙM) PHƯỢC (Ganthagocchaka)

6.                

*       Chư pháp phược, chư pháp phi phược.

*       Chư pháp cảnh phược, chư pháp phi cảnh phược.

*       Chư pháp tương ưng phược, chư pháp bất tương ưng phược.

*       Chư pháp phược và cảnh phược, chư pháp cảnh phược mà phi phược.

*       Chư pháp phược và tương ưng phược, chư pháp tương ưng phược mà phi phược.

*       Chư pháp bất tương ưng phược và cảnh phược, chư pháp bất tương ưng phược mà phi cảnh phược.

Dứt phần tụ phược.

 

PHẦN TỤ (CHÙM) BỘC (Oghagocchaka)

7.                

*    Chư pháp bộc, chư pháp phi bộc.

*    Chư pháp cảnh bộc, chư pháp phi cảnh bộc.

*    Chư pháp tương ưng bộc, chư pháp bất tương ưng bộc.

*    Chư pháp bộc và cảnh bộc, chư pháp cảnh bộc mà phi bộc.

*    Chư pháp bộc và tương ưng bộc, chư pháp tương ưng bộc mà phi bộc.

*    Chư pháp bất tương ưng bộc và cảnh bộc, chư pháp bất tương ưng bộc mà phi cảnh bộc.

Dứt phần tụ bộc

 

PHẦN TỤ (CHÙM) PHỐI (Yogagocchaka)

8.                

*    Chư pháp phối, chư pháp phi phối.

*    Chư pháp cảnh phối, chư pháp phi cảnh phối.

*    Chư pháp tương ưng phối, chư pháp bất tương ưng phối.

*    Chư pháp phối và cảnh phối, chư pháp cảnh phối mà phi phối.

*    Chư pháp phối tương ưng phối, chư pháp tương ưng phối mà phi phối.

*    Chư pháp bất tương ưng phối mà cảnh phối, chư pháp bất tương ưng phối mà phi cảnh phối.

Dứt phần tụ phối

 

PHẦN TỤ (CHÙM) CÁI (Nīvaraṇagocchaka)

9.

*    Chư pháp cái, chư pháp phi cái.

*    Chư pháp cảnh cái, chư pháp phi cảnh cái.

*    Chư pháp tương ưng cái, chư pháp bất tương ưng cái.

*    Chư pháp cái và cảnh cái, chư pháp cảnh cái mà phi cái.

*    Chư pháp cái tương ưng cái, chư pháp tương ưng cái mà phi cái.

*    Chư pháp bất tương ưng cái mà cảnh cái, chư pháp bất tương ưng cái mà phi cảnh cái.

Dứt phần tụ cái

 

 

PHẦN TỤ (CHÙM) KHINH THỊ (Parāmāsagocchaka)

10.

*    Chư pháp khinh thị, chư pháp phi khinh thị.

*    Chư pháp cảnh khinh thị, chư pháp phi cảnh khinh thị.

*    Chư pháp tương ưng khinh thị, chư pháp bất tương ưng khinh thị.

*    Chư pháp khinh thị và cảnh khinh thị, chư pháp cảnh khinh thị mà phi khinh thị.

*    Chư pháp bất tương ưng khinh thị và cảnh khinh thị, chư pháp bất tương ưng khinh thị mà phi cảnh khinh thị.

Dứt phần tụ khinh thị

 

PHẦN NHỊ ĐỀ ĐẠI (Mahantaraduka)

11.

*       Chư pháp hữu (tri) cảnh, chư pháp vô (tri) cảnh.

*       Chư pháp tâm, chư pháp phi tâm.

*       Chư pháp sở hữu tâm, chư pháp phi sở hữu tâm.

*       Chư pháp tương ưng tâm, chư pháp bất tương ưng (phi hòa với) tâm.

*       Chư pháp hòa với tâm, chư pháp phi hòa với tâm.

*       Chư pháp có tâm làm sở sanh (nền tảng), chư pháp không có tâm làm sở sanh (nền tảng).

*       Chư pháp đồng sanh tồn với tâm, chư pháp phi sanh tồn với tâm.

*       Chư pháp tùng tâm thông lưu, chư pháp phi tùng tâm thông lưu.

*       Chư pháp hòa với tâm và có tâm làm sở sanh (nền tảng), chư pháp phi hòa với tâm và không có tâm làm sở sanh.

*       Chư pháp hòa sanh tồn và nương tâm làm sở sanh, chư pháp phi hòa phi đồng sanh tồn và phi nương tâm làm sở sanh (nền tảng).

*       Chư pháp có tâm làm sở sanh, thông lưu và hòa với tâm, chư pháp phi tâm làm sở sanh và không hòa không tùng hành không thông lưu với tâm.

*       Pháp tự nội, chư pháp ngoại.

*       Chư pháp y sinh, chư pháp phi y sinh.

*       Chư pháp thành do thủ, chư pháp phi thành do thủ.

Dứt phần nhị đề đại

 

PHẦN TỤ THỦ (Upādānagocchaka)

12.

*    Chư pháp thủ, chư pháp phi thủ.

*    Chư pháp cảnh thủ, chư pháp phi cảnh thủ.

*    Chư pháp tương ưng thủ, chư pháp bất tương ưng thủ.

*    Chư pháp thủ và cảnh thủ, chư pháp cảnh thủ mà phi thủ.

*    Chư pháp thủ và tương ưng thủ, chư pháp tương ưng thủ mà phi thủ.

*    Chư pháp bất tương ưng thủ mà cảnh thủ, chư pháp bất tương ưng thủ và phi cảnh thủ.

Dứt phần tụ thủ

 

 

PHẦN TỤ (CHÙM) PHIỀN NÃO (Kilesagocchaka)

13.

*    Chư pháp phiền não, chư pháp phi phiền não.

*    Chư pháp cảnh phiền não, chư pháp phi cảnh phiền não.

*    Chư pháp phiền toái, chư pháp phi phiền toái.

*    Chư pháp tương ưng phiền não, chư pháp bất tương ưng phiền não.

*    Chư pháp phiền não và cảnh phiền não, chư pháp phi phiền não mà cảnh phiền não.

*    Chư pháp phiền não và phiền toái, chư pháp phiền toái mà phi phiền não.

*    Chư pháp phiền não và tương ưng phiền não, chư pháp tương ưng phiền não mà phi phiền não.

*    Chư pháp bất tương ưng phiền não mà cảnh phiền não, chư pháp bất tương ưng phiền não mà phi cảnh phiền não.

Dứt phần tụ phiền não

 

PHẦN YÊU BỐI (Piṭṭhiduka)

14.

*    Chư pháp sơ đạo đoạn (tuyệt) trừ, chư pháp phi sơ đạo đoạn (tuyệt) trừ.

*    Chư pháp ba đạo cao đoạn (tuyệt) trừ, chư pháp phi ba đạo cao đoạn (tuyệt) trừ.

*    Chư pháp hữu nhân sơ đạo đoạn (tuyệt) trừ, chư pháp phi hữu nhân sơ đạo đoạn (tuyệt) trừ.

*    Chư pháp hữu nhân ba đạo cao đoạn (tuyệt) trừ, chư pháp phi hữu nhân phi ba đạo cao đoạn (tuyệt) trừ.

*    Chư pháp hữu tầm, chư pháp vô tầm.

*    Chư pháp hữu tứ, chư pháp vô tứ.

*    Chư pháp hữu hỷ, chư pháp vô hỷ.

*    Chư pháp đồng sanh pháp hỷ, chư pháp phi đồng sanh pháp hỷ.

*    Chư pháp đồng sanh lạc, chư pháp phi đồng sanh lạc.

*    Chư pháp đồng sanh xả, chư pháp phi đồng sanh xả.

*    Chư pháp Dục giới, chư pháp phi Dục giới.

*    Chư pháp Sắc giới, chư pháp phi Sắc giới.

*    Chư pháp Vô sắc giới, chư pháp phi Vô sắc giới.

*    Chư pháp liên quan luân hồi, chư pháp bất liên quan luân hồi.

*    Chư pháp nhân xuất luân hồi, chư pháp phi nhân xuất luân hồi.

*    Chư pháp (cho quả) nhất định, chư pháp phi (cho quả) nhất định.

*    Chư pháp hữu thượng, chư pháp vô thượng.

*    Chư pháp hữu y, chư pháp vô y.

Dứt phần yêu bối

 

 

BỐN MƯƠI HAI NHỊ ĐỀ KINH (Suttamātikā)

15.

*    Chư pháp thành phần minh, chư pháp thành phần vô minh.

*    Chư pháp như thiểm lôi, chư pháp như lôi cực.

*    Chư pháp làm thành (ra) tiểu nhân, chư pháp làm thành (ra) quân tử.

*    Chư pháp hắc, chư pháp bạch.

*    Chư pháp viêm, chư pháp phi viêm.

*    Chư pháp thành ra danh ngôn, chư pháp nguyên nhân danh ngôn.

*    Chư pháp thành ra ngữ ngôn, chư pháp nguyên nhân ngữ ngôn.

*    Chư pháp thành ra chủ yếu chế định, chư pháp nguyên nhân chế định.

*    Chư pháp danh, chư pháp sắc.

*    Chư pháp vô minh, chư pháp ái hữu.

*    Chư pháp kiến hữu, chư pháp kiến ly hữu.

*    Chư pháp thường kiến, chư pháp đoạn kiến.

*    Chư pháp hữu tận kiến, chư pháp vô tận kiến.

*    Chư pháp hữu tiền kiến, chư pháp hữu hậu kiến.

*    Chư pháp vô tàm, chư pháp vô úy.

*    Chư pháp tàm, chư pháp úy.

*    Chư pháp thành người nan giáo (khó dạy), chư pháp thành người có ác hữu (bạn xấu).

*    Chư pháp thành người dị giáo (dễ dạy), chư pháp thành người có bạn tốt.

*    Chư pháp thành người biết rành phạm luật (rành lỗi), chư pháp thành người biết khỏi phạm luật (biết rành xuất quá).

*    Chư pháp thành người rành nhập thiền, chư pháp thành người rành xuất thiền.

*    Chư pháp thành người rành thập bát giới, chư pháp thành người rành tác ý.

*    Chư pháp thành người rành thập nhị xứ, chư pháp thành người rành liên quan tương sanh.

*    Chư pháp thành người rành cơ bản thích hợp (rành sở sanh), chư pháp thành người không rành cơ bản thích hợp.

*    Chư pháp thành người chánh trực, chư pháp thành người nhu mì.

*    Chư pháp thành người nhẫn nại, chư pháp thành người nghiêm tịnh.

*    Chư pháp thành người cam ngôn, chư pháp thành người đáng tiếp đãi.

*    Chư pháp thành người bất thu thúc môn quyền, chư pháp thành người bất tri độ thực.

*    Chư pháp thành người thu thúc môn quyền, chư pháp thành người tri độ thực.

*    Chư pháp thành người thất niệm, chư pháp thành người vô lương tri.

*    Chư pháp thực tính thành người chánh niệm, chư pháp thực tính thành người có lương tri.

*    Chư pháp thành người quán tưởng hữu lực, chư pháp thành người tu tiến hữu lực.

*    Chư pháp thành chỉ quán, chư pháp thành pháp quán.

*    Chư pháp có ấn chứng chỉ thành nhân dữ chỉ sanh hậu, chư pháp do cần tiền sanh thành nhân dữ chỉ sanh hậu.

*    Chư pháp thực tính thành ra chiếu cố, chư pháp thực tính thành vô phóng dật[1].

*    Chư pháp thực tính thành giới điêu tàn, chư pháp thực tính thành kiến điêu tàn.

*    Chư pháp thực tính làm cho mãn túc giới, chư pháp thực tính làm cho mãn túc kiến.

*    Chư pháp thực tính làm cho giới tịnh, chư pháp thực tính làm cho kiến tịnh.

*    Chư pháp thực tính thành người kiến tịnh, chư pháp thực tính thích hợp với kiến tịnh.

*    Chư pháp thực tính làm căn bản giúp cho tâm thê thảm, chư pháp thực tính siêng năng suy xét bát thê thảm.

*    Chư pháp thực tính thành người không biết no với pháp thiện, chư pháp thực tính thành người tinh tấn không lui sụt tu tiến.

*    Chư pháp thực tính gọi là minh, chư pháp thực tính gọi là yểm.

*    Chư pháp thực tính đoạn trừ phiền não, chư pháp thực tính làm tuệ hợp với Thánh quả (tuệ tùng sanh trong quả) đến tột bực đều không cho phiền não tái tục do bốn đạo đã đoạn trừ.

 

[1] phóng dật hay còn gọi là điệu cử

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
 

Phần B. THIÊN TÂM SANH

 I. PHÁP THIỆN

1.TÁM TÂM THIỆN DỤC GIỚI

 TÂM ĐẠI THIỆN THỨ NHỨT

 CÂU CHIA (CHI PHÁP)

16.   

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Khi nào có tâm thiện Dục giới đồng sanh hỷ thọ, tương ưng trí, gặp cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc và pháp. Hay là nghĩ đến chi thì vẫn có xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm[2], tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân ác, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân tĩnh tâm, khinh thân khinh tâm, nhu thân nhu tâm, thích thân thích tâm, thuần thân thuần tâm, chánh thân chánh tâm, niệm, lương tri, chỉ, quán, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh. Như thế gọi là pháp thiện vẫn có trong khi ấy.

17.   

c trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng chạm, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế. Đây gọi là xúc có trong khi ấy.

18.   

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi sự xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

19.   

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế đó, mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

20.   

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là có tư trong khi ấy.

21.   

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh, tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý thức giới. Đó gọi là có tâm trong khi ấy.

22.   

Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít và chánh tư duy. Như thế gọi là có tầm trong khi ấy.

23.   

Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự gìn giữ cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh, tâm khắn khít cảnh và cách tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

24.   

(Pháp) Hỷ trong khi có ra sao? Khi nào có sự mừng no cả thân tâm, hớn hở, sự hân hoan, sự hài lòng, vui tươi, hoan lạc và rất mừng. Như thế là (pháp) hỷ có trong khi ấy.

25.   

Lạc (hỷ) trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm vui, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc và dụng nạp hứng chịu an vui từ ý xúc. Như thế gọi là lạc có trong khi ấy.

26.   

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ một chỗ, vững lòng vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không bối rối, pháp chỉ, định quyền, định lực và chánh định có trong khi nào, thì nhứt tâm có trong khi ấy.

27.   

Tín quyền trong khi có ra sao? Khi nào có đức tin, thái độ tín ngưỡng, sự quyết tin, sự rất tín trọng, tín lực, tín quyền, tức là đức tin có trong khi nào, thì tín quyền vẫn có trong khi ấy.

28.   

Cần quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần tức là cần quyền, cần lực và chánh tinh tấn có trong khi nào, thì cần quyền có trong khi ấy.

29.   

Niệm quyền trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm quyền tức là niệm, niệm lực, chánh niệm. Đó là vẫn có niệm quyền trong khi ấy.

30.   

Định quyền trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ, định quyền, định lực và chánh định. Như thế gọi là định quyền có trong khi ấy.

31.   

Tuệ quyền trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lương tri, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết rõ đặc tính, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến có trong khi nào, thì tuệ quyền vẫn có trong khi ấy.

32.   

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh như là ý, tâm, thức, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền sanh từ ý thức giới, có trong khi nào, thì ý quyền có trong khi ấy.

33.   

Hỷ (thọ) quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hỷ, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc, hay dụng nạp hứng chịu sự an vui từ ý xúc. Như thế gọi là hỷ quyền có trong khi ấy.

34.   

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền vẫn có trong khi ấy.

35.   

Chánh kiến trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, tuệ trừ tuyệt phiền não, cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến. Như thế gọi là chánh kiến vẫn có trong khi ấy.

36.   

Chánh tư duy trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm đến khắn khít cảnh, tư duy hay chánh tư duy. Như thế gọi là chánh tư duy vẫn có trong khi ấy.

37.   

Chánh tinh tấn trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, tinh tấn tức là cần quyền, cần lực và chánh tinh tấn. Như thế gọi là chánh tinh tấn vẫn có trong khi ấy.

38.   

Chánh niệm trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm tức là niệm quyền, niệm lực và nhớ ghi chánh trực. Như thế gọi là chánh niệm vẫn có trong khi ấy.

39.   

Chánh định trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ hay là định quyền, định lực và chánh định. Như thế gọi là chánh định vẫn có trong khi ấy.

40.   

Tín lực trong khi có ra sao? Khi nào có đức tin, cách tín ngưỡng, sự quyết tin, tâm tịnh tín, đức tin tức là tín quyền, tín lực. Như thế gọi là tín lực vẫn có trong khi ấy.

41.   

Cần lực trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, tức là cần, cần lực, cần quyền, chánh tinh tấn. Như thế gọi là cần lực vẫn có trong khi ấy.

42.   

Niệm lực trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, tức là niệm, niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Như thế gọi là niệm lực vẫn có trong khi ấy.

43.   

Định lực trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ tức là định quyền, định lực, chánh định. Như thế gọi là định lực có trong khi ấy.

44.   

Tuệ lực trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), tức là vô si, tuệ quyền, chánh kiến. Như thế gọi là tuệ lực vẫn có trong khi ấy.

45.   

Tàm lực trong khi có ra sao? Khi nào có sự thẹn, cách mắc cỡ, những sự hổ thẹn đối với việc làm tội lỗi, hay pháp bất thiện. Hành vi như thế gọi là tàm lực vẫn có trong khi ấy.

46.   

Úy lực trong khi có ra sao? Khi nào có sự ghê tởm, cách sợ hãi, hành vi ghê sợ với việc làm tội lỗi, hay pháp bất thiện. Những ghê sợ đó gọi là úy lực có trong khi ấy.

47.   

Vô tham trong khi có ra sao? Khi nào có vô tham là không ham muốn, không nhiễm đắm, không tham ác, không mong mỏi, không tham vọng, cách không tham, hành vi không tham, tức là căn thiện vô tham. Như thế gọi là vô tham vẫn có trong khi ấy.

48.      

Vô sân trong khi có ra sao? Khi nào không có sự giận dỗi, không hờn, không tức mình, không tính hại, không nghĩ đến sự ác độc tức là căn thiện vô sân. Như thế gọi là vô sân có trong khi ấy.

49.   

Vô si trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não) cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến. Như thế gọi là vô si vẫn có trong khi ấy.

50.   

Vô tham ác trong khi có ra sao? Như là sự trái với tham, sự không ham muốn, không nhiễm đắm, không tham lam, không mong mỏi, không tham vọng, cách không tham, hành vi không tham, vô tham ác tức là căn thiện vô tham có trong khi nào, thì vô tham ác có trong khi ấy.

51.   

Vô sân độc trong khi có ra sao? Như là không có sự giận dữ, không hờn, không tức mình, không tính hại, không nghĩ đến sự ác độc, vô sân tức là căn thiện có trong khi nào, thì vô sân độc có trong khi ấy.

52.   

Chánh kiến trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), tuệ quyền, chánh kiến tức là vô si có trong khi nào, thì chánh kiến vẫn có trong khi ấy.

53.   

Tàm trong khi có ra sao? Trạng thái hổ thẹn với cách hành động ác xấu đáng hổ thẹn, thái độ hổ thẹn với những pháp tội ác có trong khi nào, thì tàm có trong khi ấy.

54.   

Úy trong khi có ra sao? Trạng thái ghê sợ với hành động xấu đáng ghê sợ, thái độ ghê sợ với những tội ác có trong khi nào, thì úy vẫn có trong khi ấy.

55.   

Tĩnh thân trong khi có ra sao? Trạng thái tĩnh, tự yên, tự tĩnh, thái độ tĩnh, cách tự yên tĩnh của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì tĩnh thân có trong khi ấy.

56.   

Tĩnh tâm trong khi có ra sao? Trạng thái tĩnh, tự yên, tự tĩnh, thái độ tĩnh, cách tự yên tĩnh của thức uẩn có trong khi nào, thì tĩnh tâm có trong khi ấy.

57.   

Khinh thân trong khi có ra sao? Sự nhẹ nhàng, cách thay đổi nhẹ nhàng, không nặng nề, không sần sượng của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì khinh thân có trong khi ấy.

58.   

Khinh tâm trong khi có ra sao? Sự nhẹ nhàng, cách thay đổi nhẹ nhàng, không nặng nề, không sần sượng của thức uẩn có trong khi nào, thì khinh tâm vẫn có trong khi ấy.

59.   

Nhu thân trong khi có ra sao? Sự mềm, sự dịu, không cứng, không kiên ngạnh của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì nhu thân có trong khi ấy.

60.   

Nhu tâm trong khi có ra sao? Sự mềm, sự dịu, không cứng, không kiên ngạnh của thức uẩn có trong khi nào, thì nhu tâm có trong khi ấy.

61.   

Thích thân trong khi có ra sao? Sự thích hợp với việc làm, cách thích hợp với việc làm, trạng thái thích hợp việc làm của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì thích thân có trong khi ấy.

62.   

Thích tâm trong khi có ra sao? Sự thích hợp với việc làm, cách thích hợp với việc làm, trạng thái thích hợp việc làm của thức uẩn có trong khi nào, thì thích tâm vẫn có trong khi ấy.

63.   

Thuần thân trong khi có ra sao? Sự thuần thục, cách thuần thục, trạng thái thuần thục của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì thuần thân vẫn có trong khi ấy.

64.   

Thuần tâm trong khi có ra sao? Sự thuần thục, cách thuần thục, trạng thái thuần thục của tâm có trong khi nào, thì thuần tâm vẫn có trong khi ấy.

65.   

Chánh thân trong khi có ra sao? Sự ngay thẳng, cách ngay thẳng, không cong vạy, không co vẹo của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì chánh thân có trong khi ấy.

66.   

Chánh tâm trong khi có ra sao? Sự ngay thẳng, cách ngay thẳng, không cong vạy, không co vẹo của thức uẩn có trong khi nào, thì chánh tâm vẫn có trong khi ấy.

67.   

Niệm trong khi có ra sao? Như là chánh niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ không lơ đãng, không quên, niệm quyền tức là niệm, niệm lực, chánh niệm có trong khi nào, thì niệm vẫn có trong khi ấy.

68.   

Lương tri trong khi có ra sao? Tức là tuệ, sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán sát, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến có trong khi nào, thì lương tri vẫn có trong khi ấy.

69.   

(Pháp) Chỉ trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ cũng gọi là định quyền, định lực và chánh định có trong khi nào, thì (pháp) chỉ vẫn có trong khi ấy.

70.   

(Pháp) quán trong khi có ra sao? Như là tuệ, sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu thấu, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), tức là vô si, tuệ quyền, chánh kiến có trong khi nào, thì (pháp) quán có trong khi ấy.

71.   

Chiếu cố trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần miễn tức là cần, cần lực, cần quyền và chánh tinh tấn có trong khi nào, thì chiếu cố vẫn có trong khi ấy.

72.   

Vô phóng dật trong khi có ra sao? Khi nào có sự đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, vô phóng dật tức là (pháp) chỉ, định quyền, định lực, chánh định có trong khi nào, thì vô phóng dật vẫn có trong khi ấy.

73.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những pháp chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt câu chia (chi pháp)

Dứt phần thứ nhứt: 8.000 chữ Pālī

  ----

PHẦN ĐIỀU PHÁP

74.   

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, ngũ chi thiền, ngũ chi đạo, thất lực, tam nhân, nhứt xúc, nhứt thọ, nhứt tưởng, nhứt tư, nhứt tâm, nhứt thọ uẩn, nhứt tưởng uẩn, nhứt hành uẩn, nhứt thức uẩn, nhứt ý xứ, nhứt ý quyền, nhứt ý thức giới, nhứt pháp xứ, nhứt pháp giới. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là chư pháp thiện.

75.   

Tứ uẩn trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.

-      Thọ uẩn trong khi có ra sao? Như là sở hữu tâm hỷ, sở hữu tâm lạc hưởng hỷ, lạc từ nơi tâm xúc, hứng chịu hỷ, lạc từ nơi tâm xúc có trong khi nào, thì thọ uẩn có trong khi ấy.

-      Tưởng uẩn trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng có trong khi nào, thì tưởng uẩn vẫn có trong khi ấy.

-      Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, nhứt tâm (ekaggatā), tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân độc, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thuần thân, thuần tâm, thích thân, thích tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, lương tri, pháp (chỉ), pháp (quán), chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) có trong khi nào, thì hành uẩn vẫn có trong khi ấy.

-      Thức uẩn trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền, phối hợp sanh từ ý thức giới có trong khi nào, thì thức uẩn vẫn có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là tứ uẩn có trong khi ấy.

76.   

Nhị xứ trong khi có ra sao? Ý xứ và pháp xứ

-      Ý xứ trong khi có ra sao? Như là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền phối hợp sanh từ ý thức giới có trong khi nào, thì ý xứ vẫn có trong khi ấy.

-      Pháp xứ trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, có trong khi nào, thì pháp xứ vẫn có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là nhị xứ có trong khi ấy.

77.   

Nhị giới trong khi có ra sao? Ý thức giới và pháp giới

-      Ý thức giới trong khi có ra sao? Như là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền phối hợp sanh từ ý thức giới có trong khi nào, thì ý thức giới vẫn có trong khi ấy.

-      Pháp giới trong khi có ra sao? Tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Như thế gọi là pháp giới có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là nhị giới có trong khi ấy.

78.   

Tam thực trong khi có ra sao? Như là xúc thực, tư thực và thức thực.

-      Xúc thực trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc thực có trong khi ấy.

-      Tư thực trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là có tư thực trong khi ấy.

-      Thức thực trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý thức giới. Như thế gọi là có thức thực trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là tam thực có trong khi ấy.

79.   

Bát quyền trong khi có ra sao? Như là tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền và mạng quyền.

-      Tín quyền trong khi có ra sao? Khi nào có đức tin, thái độ tín ngưỡng, sự quyết tin, sự rất tín trọng, tín quyền, tín lực tức là đức tin có trong khi nào, thì tín quyền vẫn có trong khi ấy.

-      Cần quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự. Cần tức là cần quyền, cần lực, chánh tinh tấn có trong khi nào, thì cần quyền có trong khi ấy.

-      Niệm quyền trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm quyền tức là niệm, niệm lực, chánh niệm. Đó là vẫn có niệm quyền trong khi ấy.

-      Định quyền trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ, định quyền, định lực và chánh định. Như thế gọi là định quyền có trong khi ấy.

-      Tuệ quyền trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lương tri, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến có trong khi nào, thì tuệ quyền vẫn có trong khi ấy.

-      Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý thức giới. Như thế gọi là ý quyền có trong khi ấy.

-      Hỷ quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi sự xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là hỷ quyền có trong khi ấy.

-      Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng như thế ấy gọi là bát quyền.

80.   

Ngũ chi thiền trong khi có ra sao? Tức là tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm[3].

-      Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh, tư duy và chánh tư duy. Như thế gọi là tầm có trong khi ấy.

-      Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự gìn giữ cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh, tâm khắn khít cảnh và cách đem tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

-      (Pháp) Hỷ trong khi có ra sao? Khi nào có sự mừng no cả (thân) tâm, hớn hở, sự hân hoan, sự hài lòng, vui tươi, hoan lạc và rất mừng. Như thế gọi là (pháp) hỷ có trong khi ấy.

-      (Chi) Lạc trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm vui, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc và dụng nạp hứng chịu an vui từ ý xúc. Như thế gọi là lạc có trong khi ấy.

-      Nhất tâm trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ một chỗ, vững lòng vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không bối rối, pháp chỉ, định quyền, định lực và chánh định. Như thế gọi là nhất tâm có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng như thế đó gọi là ngũ chi thiền có trong khi ấy.

81.      

Ngũ chi đạo trong khi có ra sao? Như là chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

-      Chánh kiến trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lương tri, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến. Như thế gọi là chánh kiến có trong khi ấy.

-      Chánh tư duy trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh và chánh tư duy. Như thế gọi là chánh tư duy có trong khi ấy.

-      Chánh tinh tấn trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, tinh tấn tức là chánh tinh tấn, cần quyền và cần lực. Như thế gọi là chánh tinh tấn có trong khi ấy.

-      Chánh niệm trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm tức là niệm quyền, niệm lực và nhớ ghi chánh trực. Như thế gọi là chánh niệm có trong khi ấy.

-      Chánh định trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ hay là định quyền, định lực và chánh định. Như thế gọi là chánh định có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng như thế đó gọi là ngũ chi đạo có trong khi ấy.

82.   

Thất lực trong khi có ra sao? Như là tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực và úy lực.

-      Tín lực trong khi có ra sao? Khi nào có đức tin, cách tín ngưỡng, sự quyết tin, tâm tịnh tín, đức tin tức là tín lực, tín quyền. Như thế gọi là tín lực có trong khi ấy.

-      Cần lực trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, tức là cần, cần lực, cần quyền, chánh tinh tấn. Như thế gọi là cần lực có trong khi ấy.

-      Niệm lực trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên tức là niệm, niệm lực, niệm quyền và chánh niệm. Như thế gọi là niệm lực có trong khi ấy.

-      Định lực trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ tức là định quyền, định lực, chánh định. Như thế gọi là định lực có trong khi ấy.

-      Tuệ lực trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến. Như thế gọi là tuệ lực có trong khi ấy.

-      Tàm lực trong khi có ra sao? Khi nào có sự thẹn, cách mắc cỡ, những sự hổ thẹn đối với việc làm tội lỗi hay pháp bất thiện, hành vi như thế gọi là tàm lực có trong khi ấy.

-      Úy lực trong khi có ra sao? Khi nào có sự ghê tởm, cách sợ hãi, hành vi ghê sợ đối với việc làm tội lỗi hay pháp bất thiện. Những ghê sợ đó gọi là úy lực có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là thất lực có trong khi ấy.

83.   

Tam nhân trong khi có ra sao? Như là vô tham, vô sân và vô si.

-      Vô tham trong khi có ra sao? Không ham, không muốn, không dục vọng, thái độ không tham, không muốn, không dục vọng, không tham ác. Căn thiện vô tham có trong khi nào, thì vô tham có trong khi ấy.

-      Vô sân trong khi có ra sao? Không tính độc ác, không tính ác, không tính ép uổng, thái độ không hung dữ ác độc. Căn thiện vô sân có trong khi nào, thì vô sân có trong khi ấy.

-      Vô si trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não). Tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, chánh kiến, vô si là căn thiện vô si có trong khi nào, thì vô si có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là tam nhân có trong khi ấy.

84.   

Nhứt xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng chạm, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm có trong khi nào, đây gọi là nhứt xúc có trong khi ấy.

85.      

Nhứt thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là nhứt thọ có trong khi ấy.

86.   

Nhứt tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế, đó mới gọi là nhứt tưởng có trong khi ấy.

87.   

Nhứt tư trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là nhứt tư có trong khi ấy.

88.   

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý thức giới. Như thế gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

89.   

Nhứt thọ uẩn trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi sự xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là nhứt thọ uẩn có trong khi ấy.

90.   

Nhứt tưởng uẩn trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế, đó mới gọi là nhứt tưởng uẩn có trong khi ấy.

91.   

Nhứt hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, nhất tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân độc, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, lương tri, chỉ, quán, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) có trong khi nào, đây gọi là nhứt hành uẩn có trong khi ấy.

92.   

Nhứt thức uẩn trong khi có ra sao? Như là tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý là ý xứ, ý quyền. Thức là thức uẩn, ý thức giới có trong khi nào, đây gọi là nhứt thức uẩn có trong khi ấy.

93.   

Nhứt ý xứ trong khi có ra sao? Khi nào biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý thức giới. Đó gọi là nhứt ý xứ có trong khi ấy.

94.   

Nhứt ý quyền trong khi có ra sao? Như là tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý là ý xứ, ý quyền, thức là thức uẩn, ý thức giới có trong khi nào, đây gọi là nhứt ý quyền có trong khi ấy.

95.   

Nhứt ý thức giới trong khi có ra sao? Như là tâm, ý, tâm địa... ý thức giới có trong khi nào, đây gọi là nhứt ý thức giới có trong khi ấy.

96.   

Nhứt pháp xứ trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Đây gọi là nhứt pháp xứ có trong khi ấy.

97.   

Nhứt pháp giới trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Đây gọi là nhứt pháp giới có trong khi ấy.

98.   

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

 

PHẦN TIÊU DIỆT

99.   

Hay là chư pháp, chư uẩn, chư xứ, chư giới, chư thực, quyền, thiền, đạo, lực, nhân, xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, ý xứ, ý quyền, ý thức giới, pháp xứ, pháp giới. Hoặc những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

100. 

Chư pháp trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Như thế gọi là chư pháp có trong khi ấy.

101. 

Chư uẩn trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Đây gọi là chư uẩn có trong khi ấy.

102. 

Chư xứ trong khi có ra sao? Như là ý xứ và pháp xứ. Đây gọi là chư xứ có trong khi ấy.

103. 

Chư giới trong khi có ra sao? Như là ý thức giới và pháp giới. Đây gọi là chư giới có trong khi ấy.

104. 

Chư thực trong khi có ra sao? Như là xúc thực, tư thực và thức thực. Đây gọi là chư thực có trong khi ấy.

105. 

Chư quyền trong khi có ra sao? Như là tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền và mạng quyền. Như thế gọi là chư quyền có trong khi ấy.

106. 

Thiền trong khi có ra sao? Như là tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Như thế gọi là thiền có trong khi ấy.

107. 

Đạo trong khi có ra sao? Như là chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Đây gọi là đạo có trong khi ấy.

108. 

Lực trong khi có ra sao? Như là tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực. Như thế gọi là lực có trong khi ấy.

109. 

Nhân trong khi có ra sao? Như là vô tham, vô sân và vô si. Như thế gọi là nhân có trong khi ấy.

110. 

Xúc trong khi có ra sao?... Như thế gọi là xúc có trong khi ấy.

111. 

Thọ trong khi có ra sao?... Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

112. 

Tưởng trong khi có ra sao?... Như thế gọi là tưởng có trong khi ấy.

113. 

trong khi có ra sao?... Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

114. 

Tâm trong khi có ra sao?... Như thế gọi là tâm có trong khi ấy.

115. 

Thọ uẩn trong khi có ra sao?... Như thế gọi là thọ uẩn có trong khi ấy.

116. 

Tưởng uẩn trong khi có ra sao?... Như thế gọi là tưởng uẩn có trong khi ấy.

117. 

Hành uẩn trong khi có ra sao?... Như thế gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

118. 

Thức uẩn trong khi có ra sao?... Như thế gọi là thức uẩn có trong khi ấy.

119. 

Ý xứ trong khi có ra sao?... Như thế gọi là ý xứ có trong khi ấy.

120. 

Ý quyền trong khi có ra sao?... Như thế gọi là ý quyền có trong khi ấy.

121. 

Ý thức giới trong khi có ra sao?... Như thế gọi là ý thức giới có trong khi ấy.

122. 

Pháp xứ trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Như thế gọi là pháp xứ có trong khi ấy.

123. 

Pháp giới trong khi có ra sao? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Như thế gọi là pháp giới có trong khi ấy.

124. 

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh trong khi ấy.

Những chơn tướng này đều gọi là pháp thiện.

Dứt phần tiêu diệt

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠI THIỆN THỨ HAI

125.

Chư pháp thiện là chi? Tâm thiện Dục giới đồng sanh hỷ, tương ưng trí hữu dẫn, hoặc có cảnh sắc... hoặc có cảnh pháp. Hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật vẫn có trong khi ấy.

Như thế gọi là chư pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠI THIỆN THỨ BA

126. 

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh hỷ, bất tương ưng trí hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh. Hay là những chi mở mối sanh trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân độc, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh, đều gọi là pháp thiện có trong khi ấy.

Những chơn tướng này đều gọi là pháp thiện.

127. 

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, thất quyền, ngũ chi thiền, tứ chi đạo, lục lực, nhị nhân, xúc I... pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

 Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

128. 

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, pháp hỷ, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, mạng quyền, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân độc, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) có trong khi nào, thì hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠI THIỆN THỨ TƯ

129. 

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh hỷ, bất tương ưng trí hữu dẫn, hoặc có cảnh sắc... hoặc có cảnh pháp. Hay là những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật vẫn có trong khi ấy...

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠI THIỆN THỨ NĂM

130. 

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh xả, tương ưng trí, hoặc có cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp. Hay là những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhất tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân độc, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, lương tri, chỉ, quán, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là pháp thiện.

131. 

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

- Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu hưởng sự không vui, không buồn khổ sanh từ sự xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu không vui, không khổ (buồn) của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy không vui, không khổ (buồn) của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

- Xả trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng phi hỷ, phi phi hỷ sanh từ ý xúc, hứng chịu phi khổ phi lạc, dụng nạp lãnh lấy cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc. Như thế gọi là xả có trong khi ấy.

- Xả quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng phi hỷ, phi phi hỷ sanh từ ý xúc, hứng chịu phi khổ phi lạc, dụng nạp lãnh lấy cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc. Như thế gọi là xả quyền có trong khi ấy.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng như thế gọi là pháp thiện.

132.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, tứ chi thiền, ngũ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I... pháp xứ I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy. Như thế đều gọi là pháp thiện.

133.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhất tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân độc, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, lương tri, chỉ, quán, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn). Như thế gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng ấy gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠI THIỆN THỨ SÁU

134.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh xả, tương ưng trí hữu dẫn, hoặc có cảnh sắc... hoặc cảnh pháp. Hay là những chi mở mối sanh trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng ấy gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠI THIỆN THỨ BẢY

135. 

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh xả, bất tương ưng trí, hoặc có cảnh sắc... hoặc có cảnh pháp. Hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhất tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân độc, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những pháp chơn tướng này gọi là pháp thiện.

136. 

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, thất quyền, tứ chi thiền, tứ chi đạo, lục lực, nhị nhân, xúc I... pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này đều gọi là pháp thiện.

137. 

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, mạng quyền, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân độc, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đó (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn). Như thế đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

  TÂM ĐẠI THIỆN THỨ TÁM

138.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh xả, bất tương ưng trí hữu dẫn, hoặc có cảnh sắc... hoặc có cảnh pháp. Hay là những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... .

Những pháp chơn tướng này đều gọi là pháp thiện.

Dứt tám tâm thiện Dục giới

Dứt phần thứ nhì: 8.000 chữ Pālī

~~~~~~~~~~~~~~

2.THIỆN SẮC GIỚI

 PHÂN THEO BỐN BỰC

139. 

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục, vắng lặng tất cả pháp bất thiện, chứng sơ thiền nương đề mục đất làm cảnh hợp với tầm, tứ, hỷ, lạc và nhứt tâm trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

140.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tự nội yên tịnh, vắng lặng, ly tầm tứ, hiệp nhứt tâm, vô tầm, vô tứ, còn hỷ, lạc, nhứt tâm đến nhị thiền nương cảnh đề mục đất trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, pháp hỷ, lạc, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn... chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

141.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, tam chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I... pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

142.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, pháp hỷ, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn... chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn). Như thế đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này đều gọi là pháp thiện.

143.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hóa theo đường lối hầu đến Sắc giới do tiêu tán pháp hỷ, luôn đến bực hiệp thọ xả, vẫn còn chánh niệm lương tri và hưởng lạc bằng danh thân. Chư Thánh hiền gọi bực ấy là người hiệp xả, vẫn có niệm và lạc như thế, chứng tam thiền bằng đề mục đất trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, lạc, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn... chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

144.      

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, nhị chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I... pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

145.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn... chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn). Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

146.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hóa theo đường lối hầu đến Sắc giới chứng tứ thiền nương đề mục đất dứt bặt ưu hỷ, không khổ, không lạc, vẫn niệm thanh tịnh do xả, có trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, xả, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn... chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

147.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, nhị chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I... pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

148.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn... chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn đều có trong khi ấy. Như thế gọi là hành uẩn có trong khi đó.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

PHÂN THIỀN NĂM BỰC

149.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền nương đề mục đất… có trong khi khi nào thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

150.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực chứng nhị thiền nương đề mục đất, không tầm có tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tứ, pháp hỷ, lạc, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

151.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, tứ chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I… pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng như thế gọi là pháp thiện.

152.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tứ, pháp hỷ, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn). Như thế đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

153.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ… đắc tam thiền bằng đề mục đất trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, pháp hỷ, lạc, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

154.      

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, tam chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I… pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

155.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, pháp hỷ, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn). Như thế gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

156.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới đặng tiêu tán pháp hỷ… chứng tứ thiền bằng đề mục đất trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, lạc, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

157.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thiền, bát quyền, nhị chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I… pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

158.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn). Như thế gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

159.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới trừ luôn lạc… đắc ngũ thiền bằng đề mục đất trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, xả, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

160.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, bát quyền, nhị chi thiền, tứ chi đạo, thất lực, tam nhân, xúc I… pháp xứ I, pháp giới I. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

161.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tinh tấn… chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn). Như thế gọi là hành uẩn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TỨ TIẾN HÀNH (Patipadā)

 162.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục... chứng sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

163.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc cấp... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

164.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục... chứng sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

165.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

166.      

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ... đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... ngũ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc trì... bằng đề mục đất... mà hành nan đắc cấp... bằng đề mục đất... mà hành dị đắc trì... bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TỨ CẢNH

167.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà lực hy thiểu và cảnh hy thiểu trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật... có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

168.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

169.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

170.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền bằng đề mục đất... mà lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

171.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền bằng đề mục đất... mà lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… lực hy thiểu, cảnh vô lượng… lực vô lượng, cảnh hy thiểu… lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

CHIA THIỀN MỖI THỨ THÀNH MƯỜI SÁU

172.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc trì, lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc trì và lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc trì và lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc trì và lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

173.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc cấp và lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc cấp và lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc cấp và lực vô lượng, cảnh hy thiểu... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành nan đắc cấp và lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

174.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất… mà hành dị đắc trì và lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc trì và lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc trì và lực vô lượng, cảnh hy thiểu... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc trì và lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

175.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp và lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp và lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp và lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất... mà hành dị đắc cấp và lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

176.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao?

Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng lìa tầm tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… bằng đề mục đất…, mà hành nan đắc trì, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc trì, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành nan đắc trì, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc trì, lực vô lượng cảnh vô lượng…

-      … hành nan đắc cấp, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc cấp, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành nan đắc cấp, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc cấp, lực vô lượng cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc trì, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc trì, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc trì, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc trì, lực vô lượng cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc cấp, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc cấp, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc cấp, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc cấp, lực vô lượng cảnh vô lượng…

… có trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt chia thiền mỗi thứ thành mười sáu
 

177.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục nước… đề mục lửa… đề mục gió… đề mục màu xanh… đề mục màu vàng… đề mục màu đỏ… đề mục màu trắng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt tám đề mục phổ cập chia mỗi thứ thành mười sáu

~~~~~~~~~~

DIỆU XỨ (Abhibhāyatana)

178.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc nhị thiền… tam thiền... tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TỨ TIẾN HÀNH (Paṭipadā)

179.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, vắng lặng tầm, tứ… chứng nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… chứng sơ thiền… chứng ngũ thiền mà hành dị đắc trì… hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt tứ tiến hành

~~~~~~~~~~

NHỊ CẢNH (Ārammaṇa)

180.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà lực hy thiểu cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, vắng lặng, lìa tầm tứ chứng nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… chứng sơ thiền… chứng ngũ thiền mà lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy… Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

CHIA THIỀN MỖI THỨ THÀNH MƯỜI SÁU

181.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì, lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì, lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp, lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp và lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì, lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền mà hành dị đắc trì, lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc cấp và lực hy thiểu, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc cấp và lực vô lượng, cảnh hy thiểu… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu, quyết duy trì như thế, vắng lặng lìa tầm tứ… đắc nhị thiền… đắc tam thiền… đắc tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… mà hành nan đắc trì, lực hy thiểu, cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc trì, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc cấp, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành nan đắc cấp, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc trì, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc trì, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc cấp, lực hy thiểu cảnh hy thiểu…

-      … hành dị đắc cấp, lực vô lượng cảnh hy thiểu…

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt phần chia thiền mỗi thứ đặng mười sáu

182.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu màu tốt hoặc màu không tốt, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến, hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài hy thiểu màu tốt hoặc màu không tốt, quyết duy trì như thế, vắng lặng lìa tầm tứ… đắc nhị thiền… đắc tam thiền… đắc tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Diệu xứ chia mỗi thứ đặng tám như thế này.

183.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì như thế, vắng lặng lìa tầm tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

~~~~~~~~~~

TỨ TIẾN HÀNH (Paṭipadā)

184.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì sự thấy như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì sự nhận thấy như thế, vắng lặng lìa tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… mà hành nan đắc nan… hành nan đắc cấp… hành dị đắc trì… hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt tứ tiến hành

~~~~~~~~~~

NHỊ CẢNH

185.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì nhận thấy sắc như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì nhận thấy sắc như thế, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền mà hành nan đắc trì, lực đa cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy bên ngoài sắc vô lượng, quyết duy trì hiểu thấy sắc như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp, lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt nhị cảnh

~~~~~~~~~~

CHIA THIỀN MỖI THỨ ĐẶNG TÁM CÁCH

186.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì sự thấy sắc ấy, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền mà hành nan đắc cấp, lực vô lượng cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì nhận thấy sắc như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì, lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến, hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì nhận thấy sắc ấy như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì, lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì nhận thấy sắc ấy như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp, lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì sự nhận thấy sắc ấy, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì, lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì theo sự nhận thấy sắc ấy như thế, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền mà hành dị đắc trì, lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài dồi dào, quyết duy trì theo sự nhận thấy sắc ấy, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền mà hành dị đắc cấp, lực hy thiểu, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì theo sự nhận thấy sắc ấy như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc cấp, lực vô lượng, cảnh vô lượng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, quyết duy trì theo sự nhận thấy sắc ấy như thế, vắng lặng lìa tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền, mà hành nan đắc trì, lực hy thiểu và cảnh vô lượng…

-      … hành nan đắc trì, lực vô lượng cảnh vô lượng…

-      … hành nan đắc cấp, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành nan đắc cấp, lực vô lượng cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc trì, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc trì, lực vô lượng cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc cấp, lực hy thiểu cảnh vô lượng…

-      … hành dị đắc cấp, lực vô lượng cảnh vô lượng…

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt cách chia thiền mỗi thứ đặng tám

187.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, màu tốt hoặc không tốt, quyết duy trì sự thấy sắc ấy như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài vô lượng, có những màu tốt và không tốt, quyết duy trì sự nhận thấy như thế, vắng lặng tầm, tứ, đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền…… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Diệu xứ cũng chia mỗi thứ thành tám như thế này.

188.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài màu xanh, chói xanh, chất xanh, chiếu xanh, quyết duy trì nhận thấy sắc ấy như thế, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài màu vàng, vàng chói, vàng ánh, vàng chiếu… nhận thấy sắc bên ngoài đỏ, đỏ chói, đỏ đậm, chiếu đỏ… nhận thấy sắc bên ngoài trắng, chói trắng, trắng tinh, chiếu trắng, quyết duy trì nhận thấy sắc như thế đó, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Diệu xứ cũng chia mỗi thứ thành mười sáu như thế này

Dứt diệu xứ

~~~~~~~~~~

TAM VIÊN TỊCH (Vimokkha)

189.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, đặng thấy những sắc, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, không quan trọng sắc bên trong, nhận thấy sắc bên ngoài, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, chăm chú tâm trong đề mục sắc màu cho rằng tốt, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

 Tam viên tịch cũng phân mỗi thứ thành mười sáu.

Dứt tam viên tịch

~~~~~~~~~~

THIỀN TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

190.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền đồng sanh với từ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền đồng sanh với từ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, lìa hỷ… đắc tam thiền đồng sanh với từ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền đồng sanh với từ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, đắc nhị thiền đồng sanh với từ, vô tầm còn tứ, hỷ, lạc sanh từ định, trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ… chứng tam thiền đồng sanh với từ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, xa lìa hỷ… đắc tứ thiền đồng sanh với từ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền đồng sanh với bi… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… đắc sơ thiền… đắc tứ thiền… đồng sanh với bi… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền đồng sanh với tùy hỷ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… đắc sơ thiền… tứ thiền… đồng sanh với tùy hỷ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng lìa luôn chi lạc… đắc tứ thiền (cũng là ngũ thiền) đồng sanh với xả… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Thiền tứ vô lượng tâm phân mỗi thứ thành mười sáu.

Dứt thiền tứ vô lượng tâm

~~~~~~~~~~

THIỀN BẤT MỸ (Asubhajhana)

191.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền đồng sanh với “tưởng tử thi sình”… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền đồng sanh với “tưởng tử thi biến sắc”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi chảy nước vàng”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi bể nứt nở”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi bị thú ăn”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi rã hai”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi rã từng miếng”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi máu đọng nhẩm’…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi hóa dòi tửa”…

-      … đồng sanh với “tưởng tử thi rải rác”…

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Thiền bất mỹ cũng chia mỗi thứ đặng mười sáu.

Dứt thiện sắc giới

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

3. THIỆN VÔ SẮC GIỚI

 TỨ THIỀN VÔ SẮC GIỚI

192.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, nhờ lướt qua những tưởng hữu hình, diệt tưởng phẫn nhuế, không còn tác ý tưởng dị, trừ luôn lạc… đắc tứ thiền xả thọ đồng sanh với Không vô biên xứ trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt khỏi những Không vô biên xứ đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền xả thọ đồng sanh với tưởng Thức vô biên xứ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt khỏi những Thức vô biên xứ, đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền xả thọ đồng sanh với tưởng Vô sở hữu xứ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt khỏi những Vô sở hữu xứ, đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền xả thọ đồng sanh với tưởng Phi tưởng phi phi tưởng xứ… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

 Bốn bực thiền vô sắc phân mỗi thứ thành mười sáu.

Dứt thiện Vô sắc giới

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

BA BỰC PHÁP THIỆN TRONG BA CÕI

 THIỆN DỤC GIỚI

193.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm Dục giới đồng sanh hỷ, tương ưng trí bực hạ (hīna)... bực trung (majjhima)… bực thượng (paṇīta)… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng…

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Tâm thiện Dục giới đồng sanh hỷ, tương ưng trí hữu dẫn… đồng sanh hỷ, bất tương ưng trí… đồng sanh hỷ, bất tương ưng trí hữu dẫn… đồng sanh xả, tương ưng trí… đồng sanh xả, tương ưng trí hữu dẫn… đồng sanh xả, bất tương ưng trí… đồng sanh xả, bất tương ưng trí hữu dẫn… mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng…

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt thiện Dục giới

~~~~~~~~~~

THIỆN SẮC GIỚI

194.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền bằng đề mục đất… thành bực hạ… bực trung… bực thượng… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng…

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền bằng đề mục đất… thành bực hạ… bực trung… bực thượng… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng….

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt thiện Sắc giới

~~~~~~~~~~

THIỆN VÔ SẮC GIỚI

195.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt qua những tưởng hữu hình, đã diệt tưởng phẫn nhuế, không còn tác ý tưởng dị, đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Không vô biên xứ mà thành bực hạ… bực trung… bực thượng… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng….

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng….

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt khỏi những Không vô biên xứ, đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Thức vô biên xứ mà thành bực hạ… bực trung… bực thượng… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng….

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt qua khỏi những Thức vô biên xứ, đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Vô sở hữu xứ… vẫn thành bực hạ… bực trung… bực thượng… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng… .

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

… có trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới, do lướt qua khỏi những Vô sở hữu xứ, đã trừ luôn lạc… đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Phi tưởng phi phi tưởng xứ… mà thành bực hạ… bực trung… bực thượng… có dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng…

-      Có dục trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có cần trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có tâm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

-      Có thẩm trưởng mà bực hạ… bực trung… bực thượng…

… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt thiện Vô sắc giới

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

 

[2] Nhất tâm hay còn gọi là Nhất hành hay Nhất thống

[3] Nhất tâm: Định, nhất thống, nhất hành.



4.TÂM THIỆN SIÊU THẾ

 (Lối hẹp có bốn)

TÂM ĐẠO THỨ NHỨT

196.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan đưa khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, trong sạch lìa bất thiện, đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì hiệp với tầm, tứ, hỷ, sanh từ yên tĩnh trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, pháp hỷ, lạc, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, tri dị tri quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân độc, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, (chánh) niệm, lương tri, (pháp) chỉ, (pháp) quán, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

197.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

198.

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi sự xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

199.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế đó, mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

200.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

201.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền, và ý thức giới. Như thế gọi là có tâm trong khi ấy.

202.

Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh, tư duy, chánh tư duy là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là có tầm trong khi ấy.

203.

Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự gìn giữ cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh, tâm khắn khít cảnh và cách tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

204.

(Pháp) Hỷ trong khi có ra sao? Khi nào có sự mừng no cả (thân) tâm, sự hớn hở, sự hân hoan, sự hài lòng, vui tươi, hoan lạc, rất mừng, hỷ giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là (pháp) hỷ có trong khi ấy.

205.

Lạc trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm vui, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc, dụng nạp hứng chịu an vui từ ý xúc. Như thế gọi là lạc có trong khi ấy.

206.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ một chỗ, vững lòng vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không bối rối, pháp chỉ, định quyền, định lực, chánh định và định giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo có trong khi nào, thì nhứt tâm có trong khi ấy.

207.

Tín quyền trong khi có ra sao? Khi nào có đức tin, thái độ tín ngưỡng, sự quyết tin, sự rất tín trọng, tín lực, tín quyền, tức là đức tin có trong khi nào, thì tín quyền có trong khi ấy.

208.

Cần quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần tức là cần quyền, cần lực, cần giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo, chánh tinh tấn có trong khi nào, thì cần quyền có trong khi ấy.

209.

Niệm quyền trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm quyền tức là niệm, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Đó là vẫn có niệm quyền trong khi ấy.

210.

Định quyền trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ, định quyền, định lực, chánh định, định giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là định quyền có trong khi ấy.

211.

Tuệ quyền trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lương tri, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo có trong khi nào, thì tuệ quyền vẫn có trong khi ấy.

212.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền sanh từ ý thức giới có trong khi nào, thì ý quyền có trong khi ấy.

213.

Hỷ (thọ) quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hỷ, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc, hay dụng nạp hứng chịu sự an vui từ ý xúc. Như thế gọi là hỷ quyền có trong khi ấy.

214.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền có trong khi ấy.

215.

Tri dị tri quyền trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là tri dị tri quyền có trong khi ấy.

216.

Chánh kiến trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là chánh kiến có trong khi ấy.

217.

Chánh tư duy trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh, tư duy, chánh tư duy là chi của đạo, liên quan trong đạo có trong khi nào, thì chánh tư duy có trong khi ấy.

218.

Chánh ngữ trong khi có ra sao? Sự chừa bỏ, cách chừa bỏ, càng chừa bỏ, tránh xa không làm, không đá động, không hiệp tác, không phạm đến tứ ác ngữ, chánh ngữ là chi của đạo, trọn liên hệ trong đạo, lời nói chơn chánh có trong khi nào, thì chánh ngữ có trong khi ấy.

219.

Chánh nghiệp trong khi có ra sao? Sự chừa bỏ, cách chừa bỏ, càng chừa bỏ, tránh xa, không làm, không đá động, không hiệp tác, không phạm thân ác, chánh nghiệp là chi của đạo, liên hệ trong đạo, hành động chơn chánh có trong khi nào, thì chánh nghiệp có trong khi ấy.

220.

Chánh mạng trong khi có ra sao? Sự chừa bỏ, cách chừa bỏ, càng chừa bỏ, tránh xa không làm, không đá động, không hiệp tác, không phạm tà mạng, chánh mạng là chi của đạo, trọn liên hệ trong đạo, sự nuôi mạng chơn chánh có trong khi nào, thì chánh mạng có trong khi ấy.

221.

Chánh tinh tấn trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần tức là cần quyền, cần lực, chánh tinh tấn và cần giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo có trong khi nào, thì chánh tinh tấn có trong khi ấy.

222.

Chánh niệm trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo có trong khi nào, thì chánh niệm có trong khi ấy.

223.

Chánh định trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ tức là định quyền, định lực, chánh định, định giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là chánh định có trong khi ấy.

224.

Tín lực trong khi có ra sao? Khi nào có đức tin, cách tín ngưỡng, sự quyết tin, tâm tịnh tín, đức tin tức là tín quyền, tín lực. Như thế gọi là tín lực có trong khi ấy.

225.

Cần lực trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần tức là cần quyền, cần lực, chánh tinh tấn và cần giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là cần lực có trong khi ấy.

226.

Niệm lực trong khi có ra sao? Khi nào có niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là niệm lực có trong khi ấy.

227.

Định lực trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, pháp chỉ tức là định quyền, định lực, chánh định, định giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là định lực có trong khi ấy.

228.

Tuệ lực trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), tức là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là tuệ lực vẫn có trong khi ấy.

229.

Tàm lực trong khi có ra sao? Khi nào có sự thẹn, cách mắc cỡ, những sự hổ thẹn đối với việc làm tội lỗi hay pháp bất thiện. Hành vi như thế gọi là tàm lực vẫn có trong khi ấy.

230.

Úy lực trong khi có ra sao? Khi nào có sự ghê tởm, cách sợ hãi, hành vi ghê sợ với việc làm tội lỗi hay pháp bất thiện. Những ghê sợ đó gọi là úy lực có trong khi ấy.

231.

Vô tham trong khi có ra sao? Khi nào có vô tham là không ham muốn, không nhiễm đắm, không tham ác, không mong mỏi, không tham vọng, cách không tham, hành vi không tham, tức là căn thiện vô tham. Như thế gọi là vô tham có trong khi ấy.

232.

Vô sân trong khi có ra sao? Khi nào không có sự giận dỗi, không hờn, không tức mình, không tính hại, không nghĩ đến sự ác độc tức là căn thiện vô sân. Như thế gọi là vô sân có trong khi ấy.

233.

Vô si trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là vô si có trong khi ấy.

234.

Vô tham ác trong khi có ra sao? Như là sự trái với tham, sự không ham muốn, không nhiễm đắm, không tham lam, không mong mỏi, không tham vọng, cách không tham, hành vi không tham, vô tham ác, tức là căn thiện vô tham có trong khi nào, thì vô tham ác có trong khi ấy.

235.

Vô sân độc trong khi có ra sao? Khi nào không có sự giận dữ, không hờn, không tức mình, không tính hại, không nghĩ đến sự ác độc, vô sân tức là căn thiện có trong khi nào, thì vô sân độc có trong khi ấy.

236.

Chánh kiến trong khi có ra sao? Khi nào có tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là chánh kiến vẫn có trong khi ấy.

237.

Tàm trong khi có ra sao? Trạng thái hổ thẹn với cách hành động ác xấu đáng hổ thẹn, thái độ hổ thẹn với những pháp tội ác có trong khi nào, thì tàm có trong khi ấy.

238.

Úy trong khi có ra sao? Trạng thái ghê sợ với hành động xấu đáng ghê sợ, thái độ ghê sợ với những tội ác có trong khi nào, thì úy có trong khi ấy.

239.

Tĩnh thân trong khi có ra sao? Trạng thái tĩnh, tự yên, tự tĩnh, thái độ tĩnh, cách tự yên tự tĩnh của thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và yên tĩnh giác chi. Như thế gọi là tĩnh thân có trong khi ấy.

240.

Tĩnh tâm trong khi có ra sao? Trạng thái tĩnh, tự yên, tự tĩnh, thái độ tĩnh, cách tự yên tĩnh của thức uẩn và yên tĩnh giác chi. Như thế gọi là tĩnh tâm có trong khi ấy.

241.

Khinh thân trong khi có ra sao? Sự nhẹ nhàng, cách thay đổi nhẹ nhàng, không nặng nề, không sần sượng của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì khinh thân có trong khi ấy.

242.

Khinh tâm trong khi có ra sao? Sự nhẹ nhàng, cách thay đổi nhẹ nhàng, không nặng nề, không sần sượng của thức uẩn có trong khi nào, thì khinh tâm có trong khi ấy.

243.

Nhu thân trong khi có ra sao? Sự mềm dịu, không cứng, không kiên ngạnh của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì nhu thân có trong khi ấy.

244.

Nhu tâm trong khi có ra sao? Sự mềm, sự dịu, không cứng, không kiên ngạnh của thức uẩn có trong khi nào, thì nhu tâm có trong khi ấy.

245.

Thích thân trong khi có ra sao? Sự thích hợp với việc làm, cách thích hợp với việc làm, trạng thái thích hợp việc làm của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì thích thân có trong khi ấy.

246.

Thích tâm trong khi có ra sao? Sự thích hợp với việc làm, cách thích hợp với việc làm, trạng thái thích hợp việc làm của thức uẩn có trong khi nào, thì thích tâm có trong khi ấy.

247.

Thuần thân trong khi có ra sao? Sự thuần thục, cách thuần thục, trạng thái thuần thục của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì thuần thân có trong khi ấy.

248.

Thuần tâm trong khi có ra sao? Sự thuần thục, cách thuần thục, trạng thái thuần thục của tâm có trong khi nào, thì thuần tâm có trong khi ấy.

249.

Chánh thân trong khi có ra sao? Sự ngay thẳng, cách ngay thẳng, không cong vạy, không co vẹo của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn có trong khi nào, thì chánh thân có trong khi ấy.

250.

Chánh tâm trong khi có ra sao? Sự ngay thẳng, cách ngay thẳng, không cong vạy, không co vẹo của thức uẩn có trong khi nào, thì chánh tâm có trong khi ấy.

251.

Niệm trong khi có ra sao? Như là chánh niệm, phụ niệm, hồi quang, nhớ đặng, thường nhớ, vẫn nhớ, không lơ đãng, không quên, niệm quyền tức là niệm, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là niệm có trong khi ấy.

252.

Lương tri trong khi có ra sao? Như là tuệ, sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là lương tri có trong khi ấy.

253.

Chỉ trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ cũng gọi là định quyền, định lực, chánh định và định giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là chỉ vẫn có trong khi ấy.

254.

(Pháp) Quán trong khi có ra sao? Như là tuệ, sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét rõ, gạn xét, quán xét, lương tri, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng là vô si, tuệ quyền, chánh kiến, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là (pháp) quán có trong khi ấy.

255.

Chiếu cố trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần miễn tức là cần, cần quyền, cần lực, chánh tinh tấn và cần giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là chiếu cố có trong khi ấy.

256.

Vô phóng dật trong khi có ra sao? Khi nào có sự đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, vô phóng dật tức là (pháp) chỉ, định quyền, định lực, chánh định và định giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo. Như thế gọi là vô phóng dật có trong khi ấy.

257.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

258.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, cửu quyền, ngũ chi thiền, bát chi đạo, thất lực, tam nhân xúc I, thọ I, tưởng I, tư I, tâm I, thọ uẩn I, tưởng uẩn I, hành uẩn I, thức uẩn I, ý xứ I, ý quyền I, ý thức giới I, pháp xứ I, pháp giới I, đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

259.

Như là xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, nhứt tâm, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, tri dị tri quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, cần lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân độc, chánh kiến, tàm, úy, tĩnh thân, tĩnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, lương tri, chỉ, quán, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn có trong khi nào, thì hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt lối hẹp có bốn

~~~~~~~~~~

TÂM THIỆN SIÊU THẾ (Cách rộng có hai mươi)

PHẦN TỊNH TIẾN HÀNH

260.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc nan trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

261.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

262.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành dị đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

263.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền mà hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

264.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… mà hành nan đắc trì… hành nan đắc cấp… hành dị đắc trì… hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt phần tịnh tiến hành

~~~~~~~~~~

CHỦNG TIÊU DIỆT (Suññata)

265.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt phần chủng tiêu diệt

~~~~~~~~~~

PHẦN CĂN TIÊU DIỆT TIẾN HÀNH

266.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành dị đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì… bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc cấp… bằng chủng tiêu diệt mà hành dị đắc trì… bằng chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt phần tiêu diệt

~~~~~~~~~~

CHỦNG PHI NỘI (Appaṇthita)

267.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt chủng phi nội

~~~~~~~~~~

PHẦN CĂN PHI NỘI TIẾN HÀNH

268.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành dị đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành dị đắc cấp… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc cấp… chủng phi nội mà hành dị đắc trì… chủng phi nội mà hành dị đắc cấp trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt phần căn phi nội tiến hành

269.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối siêu thế… tu tiến tứ niệm xứ đến siêu thế… tu tiến tứ chánh cần đến siêu thế… tu tiến như ý túc đến siêu thế… tu tiến quyền đến siêu thế… tu tiến lực đến siêu thế… tu tiến giác chi đến siêu thế… tu tiến đế đến siêu thế… tu tiến chỉ đến siêu thế… tu tiến pháp đến siêu thế… tu tiến uẩn đến siêu thế… tu tiến giới đến siêu thế… tu tiến thực đến siêu thế… tu tiến xúc đến siêu thế… tu tiến thọ đến siêu thế… tu tiến tưởng đến siêu thế… tu tiến tư đến siêu thế… tu tiến tâm đến siêu thế… cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt cách rộng hai mươi

~~~~~~~~~~

TRƯỞNG (Adhipati)

270.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, vắng lặng tầm, tứ… đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền… bằng dục trưởng… cần trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng… mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo đường lối siêu thế… tu tiến tứ niệm xứ đến siêu thế… tu tiến chánh cần đến siêu thế… tu tiến như ý túc đến siêu thế… tu tiến quyền đến siêu thế… tu tiến lực đến siêu thế… tu tiến giác chi đến siêu thế… tu tiến đế đến siêu thế… tu tiến chỉ đến siêu thế… tu tiến pháp đến siêu thế… tu tiến uẩn đến siêu thế… tu tiến xứ đến siêu thế… tu tiến giới đến siêu thế… tu tiến thực đến siêu thế… tu tiến xúc đến siêu thế… tu tiến thọ đến siêu thế… tu tiến tưởng đến siêu thế… tu tiến tư đến siêu thế… tu tiến tâm đến siêu thế… cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng dục trưởng… tâm trưởng… thẩm trưởng mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt trưởng và dứt tâm đạo thứ nhứt

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠO THỨ HAI

271.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng chứng bực thứ hai hầu giảm bớt ái dục và sân độc cho nhẹ nhàng, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… tri dĩ tri quyền… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt tâm đạo thứ hai

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠO THỨ BA

272.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo hầu chứng bực thứ ba, đặng bớt ái dục và sân độc đều tuyệt, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… tri dĩ tri quyền… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt tâm đạo thứ ba

~~~~~~~~~~

TÂM ĐẠO THỨ TƯ

273.

Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Bực tu tiến theo thiền siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo, hầu chứng bực thứ tư, đặng trừ sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật và vô minh đều tuyệt không còn, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… tri dĩ tri quyền… vô phóng dật đều có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

274.

Tri dĩ tri quyền trong khi có ra sao? Tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tánh, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi vi tế, suy xét, gạn xét, quán xét, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, (tuệ trừ tuyệt phiền não), cũng gọi vô si, chánh kiến, trạch pháp, trạch pháp giác chi là chi của đạo, liên quan trong đạo, có trong khi nào, thì tri dĩ tri quyền… vô phóng dật có trong khi ấy…. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Dứt tâm đạo thứ tư và dứt tâm thiện siêu thế

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
 

II. PHÁP BẤT THIỆN

12 TÂM BẤT THIỆN

 TÂM BẤT THIỆN THỨ NHỨT

 

PHẦN CHI PHÁP

 275.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh hỷ, tương ưng tà kiến; hoặc có cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp, hay là những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, tà kiến, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, tà kiến, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

276.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

277.

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi sự xúc chạm của ý thức giới. Cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

278.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế đó, mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

279.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

280.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý thức giới. Như thế gọi là tâm có trong khi ấy.

281.

Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh và tà tư duy. Như thế gọi là có tầm có trong khi ấy.

282.

Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự gìn giữ cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh, tâm khắn khít cảnh và cách tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

283.

(Pháp) Hỷ trong khi có ra sao? Khi nào có sự mừng no cả (thân) tâm, sự hớn hở, sự hân hoan, sự hài lòng, vui tươi, hoan lạc và rất mừng. Như thế gọi là (pháp) hỷ có trong khi ấy.

284.

Lạc trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm vui, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc và dụng nạp hứng chịu an vui từ ý xúc. Như thế gọi là lạc có trong khi ấy.

285.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ một chỗ, vững lòng vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không bối rối, (pháp) chỉ, định quyền, định lực, tà định. Như thế gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

286.

Cần quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần tức là cần quyền, cần lực và tà tinh tấn có trong khi nào, thì cần quyền có trong khi ấy.

287.

Định quyền trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ, định quyền, định lực và tà định. Như thế gọi là định quyền có trong khi ấy.

288.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền, sanh từ ý thức giới. Như thế gọi là ý quyền có trong khi ấy.

289.

Hỷ quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hỷ, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc, hay dụng nạp hứng chịu sự an vui từ ý xúc. Như thế gọi là hỷ quyền có trong khi ấy.

290.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền có trong khi ấy.

291.

Tà kiến trong khi có ra sao? Kiến thức tức là thiên kiến, hoang vu kiến, ký khu kiến, thù nghịch kiến, biến hóa kiến, kiến thức như triền, chấp trước nghịch kiến, kiến hoặc, khinh thị, lộ đồ sai, tà đạo, sự sai căn nguyên tà giáo, chấp ngược có trong khi nào, đây gọi là tà kiến có trong khi ấy.

292.

Tà tư duy trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh và tà tư duy. Như thế gọi là tà tư duy có trong khi ấy.

293.

Tà tinh tấn trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, tinh tấn tức là tà tinh tấn, cần quyền và cần lực. Như thế gọi là tà tinh tấn có trong khi ấy.

294.

Tà định trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ, cũng gọi định quyền, định lực và tà định. Như thế gọi là tà định có trong khi ấy.

295.

Cần lực trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần tức là cần quyền, cần lực và tà tinh tấn. Như thế gọi là cần lực có trong khi ấy.

296.

Định lực trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ, cũng gọi định quyền, định lực và tà định. Như thế gọi là định lực có trong khi ấy.

297.

Vô tàm lực trong khi có ra sao? Khi nào không có sự hổ thẹn, cách không mắc cỡ, những sự không hổ thẹn đối với việc làm tội lỗi hay pháp bất thiện. Những hành vi như thế gọi là vô tàm lực có trong khi ấy.

298.

Vô úy lực trong khi có ra sao? Khi nào không có sự ghê tởm, cách không sợ hãi, hành vi không ghê sợ đối với việc làm tội lỗi hay pháp bất thiện. Những sự không ghê sợ đó gọi là vô úy lực có trong khi ấy.

299.

Tham trong khi có ra sao? Cách ham, sự muốn, rất muốn, dục vọng, yêu mến, rất yêu mến, tham là căn bất thiện có trong khi nào, đây gọi là tham có trong khi ấy.

300.

Si trong khi có ra sao? Cách vô tri, sự bất kiến, chẳng hiểu thấu, không chịu lý đáng biết, chẳng hiểu theo chơn chánh, không thấu đáo, không cần dùng theo đúng đắn, không công nhận lối đầy đủ, chẳng phán đoán, chẳng suy xét, không chịu làm cho minh hiển, tệ hèn, ngây ngô, khờ khạo, không biết chi, sự mê mờ, sự say mê, sự mê hoặc, cũng là vô minh, vô minh bộc, vô minh phối hợp, vô minh tùy miên, vô minh chi phối, vô minh là chốt gài. Si cũng là căn bất thiện có trong khi nào, đây gọi là si có trong khi ấy.

301.

Tham ác trong khi có ra sao? Cách ham, sự muốn, rất muốn, dục vọng, yêu mến, rất yêu mến, tham là căn bất thiện có trong khi nào, đây gọi là tham ác có trong khi ấy.

302.

Tà kiến trong khi có ra sao? Kiến thức tức là thiên kiến, hoang vu kiến, ký khu kiến, thù nghịch kiến, biến hóa kiến, kiến thức như triền, chấp trước, nghịch kiến, kiến hoặc, khinh thị, lộ đồ sai, tà đạo, sự sai căn nguyên, tà giáo, chấp ngược có trong khi nào, đây gọi là tà kiến có trong khi ấy.

303.

Vô tàm trong khi có ra sao? Trạng thái không hổ thẹn với cách hành động ác xấu đáng hổ thẹn, thái độ không hổ thẹn với những pháp tội ác có trong khi nào, thì vô tàm có trong khi ấy.

304.

Vô úy trong khi có ra sao? Trạng thái không ghê sợ với hành động xấu đáng ghê sợ, thái độ không ghê sợ với những tội ác có trong khi nào, thì vô úy vẫn có trong khi ấy.

305.

Chỉ trong khi có ra sao? Khi nào có tâm đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, (pháp) chỉ, cũng gọi định quyền, định lực và tà định có trong khi nào, thì (pháp) chỉ có trong khi ấy.

306.

Chiếu cố trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm siêng năng, cố gắng, tinh tấn, sấn sướt, lướt tới, tiến đến, ráng thêm, chịu đựng, bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, phò trì phận sự, cần miễn tức là cần, cần quyền, cần lực và tà tinh tấn có trong khi nào, thì chiếu cố vẫn có trong khi ấy.

307.

Vô phóng dật trong khi có ra sao? Khi nào có sự đình trụ, vững lòng, vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không rong ruổi, vô phóng dật tức là (pháp) chỉ, định quyền, định lực và tà định có trong khi nào, thì vô phóng dật vẫn có trong khi ấy.

308.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

309.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, ngũ chi thiền, tứ chi đạo, tứ lực, nhị nhân, xúc 1, pháp xứ 1, pháp giới 1. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

310.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, pháp hỷ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền, tà kiến, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, tà kiến, vô tàm, vô úy, chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ NHÌ

311.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh hỷ, tương ưng tà kiến hữu dẫn. Hoặc có sắc làm cảnh… hoặc có pháp làm cảnh… hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật đều có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ BA

312.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh hỷ, bất tương ưng tà kiến. Hoặc có sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp làm cảnh. Hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, (pháp) hỷ, lạc, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

313.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, ngũ chi thiền, tam chi đạo, tứ lực, nhị nhân, xúc 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

314.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, (pháp) hỷ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền, tà kiến, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh trừ thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn cũng đều có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ TƯ

315.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh hỷ, bất tương ưng tà kiến hữu dẫn. Hoặc có sắc làm cảnh… hoặc có pháp làm cảnh… hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật đều có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ NĂM

316.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh xả, tương ưng tà kiến. Hoặc có sắc, thinh, khí, vị, xúc, hay pháp làm cảnh. Hay là những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật, hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

317.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

- Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm phi hỷ, phi phi hỷ sanh từ ý xúc, phối hợp ý thức giới, thọ hưởng phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

- Xả trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hứng chịu phi ưu phi hỷ sanh từ nơi ý xúc, thọ hưởng phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc trong khi nào, thì xả có trong khi ấy.

- Xả quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hứng chịu phi ưu phi hỷ sanh từ nơi ý xúc, thọ hưởng phi khổ phi lạc sanh từ nơi ý xúc trong khi nào, thì xả quyền có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

318.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, tứ chi thiền, tứ chi đạo, ngũ lực, nhị nhân, xúc I… pháp xứ I, pháp giới I đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

319.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền, tà kiến, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, tà kiến, vô tàm, vô úy, pháp chỉ, chiếu cố, vô phóng dật, hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) cũng vẫn có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ SÁU

320.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh xả, tương ưng tà kiến hữu dẫn… hoặc có sắc làm cảnh… hoặc có pháp làm cảnh… hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ BẢY

321.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh xả, bất tương ưng tà kiến. Hoặc có sắc, thinh, khí, vị, xúc hay pháp làm cảnh. Hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, vô tàm, vô úy, pháp chỉ, chiếu cố, vô phóng dật, hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

322.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, tứ chi thiền, tam chi đạo, tứ lực, nhị nhân, xúc 1… pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

323.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, tham, si, tham ác, vô tàm, vô úy, chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn đều có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ TÁM

324.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh xả, bất tương ưng tà kiến hữu dẫn… hoặc có sắc làm cảnh… hoặc có pháp làm cảnh… hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ CHÍN

325.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh ưu thọ, tương ưng phẫn nhuế, hoặc có sắc, thinh, khí, vị, xúc hay pháp làm cảnh; hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, khổ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, ưu quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, sân, si, sân độc, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

326.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng chạm, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

- Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng buồn khổ phi hỷ sanh từ ý xúc, phối hợp ý thức giới, hứng chịu buồn khổ phi hỷ sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

- Khổ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng buồn khổ phi hỷ sanh từ ý xúc, hứng chịu buồn khổ phi hỷ sanh từ ý xúc. Như thế gọi là khổ có trong khi ấy.

- Ưu quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng buồn khổ phi hỷ sanh từ ý xúc, hứng chịu buồn khổ phi hỷ sanh từ ý xúc. Như thế gọi là ưu quyền có trong khi ấy.

- Sân trong khi có ra sao? Cách tính ác độc, sự tính ác độc, thái độ tính ác độc, cách tính ám hại, sự tính ám hại, thái độ tính ám hại, sự sân, sự tức tối, sự hung dữ, sự ác khẩu, cách tâm không thơ thới có trong khi nào, đây gọi là sân có trong khi ấy.

- Sân độc trong khi có ra sao? Cách tính ác độc, sự tính ác độc, thái độ tính ác độc, cách tính ám hại, sự tính ám hại, thái độ tính ám hại, sự sân, sự tức tối, sự hung dữ, sự ác khẩu, cách tâm không thơ thới có trong khi nào, đây gọi là sân độc có trong khi ấy.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

327.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, tứ chi thiền, tam chi đạo, tứ lực, nhị nhân, xúc 1… pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

328.

Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, sân, si, sân độc, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) cũng có trong khi ấy. Như thế gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ MƯỜI

329.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh ưu thọ, tương ưng phẫn nhuế hữu dẫn, hoặc có sắc làm cảnh… hoặc có pháp làm cảnh, hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ MƯỜI MỘT

330.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh xả, tương ưng hoài nghi, hoặc có sắc, thinh, khí, vị, xúc, hay pháp làm cảnh; hay những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, cần quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, cần lực, vô tàm lực, vô úy lực, hoài nghi, si, vô tàm, vô úy, chiếu cố, vô phóng dật đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

331.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng chạm, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

- Nhứt tâm trong khi có ra sao? Trong khi nào có sự đình trụ của tâm… thì khi ấy gọi là có nhứt tâm trong khi ấy.

- Hoài Nghi trong khi có ra sao? Khi nào nghi ngờ, nghi hoặc, nghi nan, xét thấy lạ lùng, khác biệt, sự quyết đoán cảnh không đặng, sự nhận thấy thành hai khía cạnh, sự nhận thấy như đường rẽ hai, cách nghi ngờ, sự không quyết một, sự tính vớ vẩn, suy xét vu vơ, sự không thể dứt khoát, sự sần sượng của tâm, ý do dự. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

332.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tứ quyền, tứ chi thiền, nhị chi đạo, tam lực, nhân 1, xúc 1… pháp xứ 1, pháp giới 1. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

333.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, cần quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, cần lực, vô tàm lực, vô úy lực, hoài nghi, si, vô tàm, vô úy, chiếu cố. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) vẫn có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

~~~~~~~~~~

TÂM BẤT THIỆN THỨ MƯỜI HAI

334.

Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? Tâm bất thiện đồng sanh xả, tương ưng phóng dật, hoặc có sắc, thinh, khí, vị, xúc, hay pháp làm cảnh. Hay là những chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, cần lực, định lực, vô tàm lực, vô úy lực, phóng dật, si, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

335.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

- Phóng dật trong khi có ra sao? Sự tán loạn của tâm, sự không vắng lặng của tâm, sự lao chao của tâm, sự sôi nổi của tâm, có trong khi nào, thì phóng dật có trong khi ấy.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

336.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, tứ chi thiền, tam chi đạo, tứ lực, nhân 1, xúc 1… pháp xứ 1, pháp giới 1. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

337.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền, tà tư duy, tà tinh tấn, tà định, vô tàm lực, vô úy lực, phóng dật, si, vô tàm, vô úy, (pháp) chỉ, chiếu cố, vô phóng dật. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) ngoài ra đều có như thế. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp bất thiện.

Dứt mười hai tâm bất thiện

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

 

III. PHÁP VÔ KÝ

1. QUẢ DỤC GIỚI

NGŨ THỨC QUẢ THIỆN

338.

Pháp vô ký trong khi có ra sao? Nhãn thức quả (thiện) đồng sanh xả, có sắc làm cảnh sanh do nghiệp thiện Dục giới đã tạo tích trữ, sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, xả, nhứt tâm, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

339.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng chạm, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

340.

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào sở hữu tâm sanh từ nơi xúc nhãn thức giới phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, hưởng phi khổ phi lạc và sanh từ ý xúc, hứng chịu phi khổ phi lạc trong khi nào, thì thọ vẫn có trong khi ấy.

341.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng sanh từ xúc phối hợp cùng nhãn thức giới. Khi nào như thế đó, mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

342.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng nhãn thức giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

343.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý xứ, ý quyền, thức uẩn hòa chung nhau với nhãn thức giới trong khi nào, đây gọi là tâm có trong khi ấy.

344.

Xả trong khi có ra sao? Khi nào sở hữu tâm hưởng phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, hứng chịu phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc và dụng nạp lãnh lấy cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc, như thế gọi là xả có trong khi ấy.

345.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Sự đình trụ của tâm trong khi nào, đây gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

346.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý xứ, ý quyền, thức uẩn sanh từ nhãn thức giới có trong khi nào, thì ý quyền có trong khi ấy.

347.

Xả quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, hứng chịu phi khổ phi lạc dụng nạp lãnh lấy cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc. Như thế gọi là xả quyền có trong khi ấy.

348.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền vẫn có trong khi ấy.

349.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

350.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1… nhãn thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

351.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) cũng đồng có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

352.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

- Nhĩ thức quả (thiện) đồng sanh xả, có thinh làm cảnh…

- Tỷ thức quả (thiện) đồng sanh xả, có khí làm cảnh…

- Thiệt thức quả (thiện) đồng sanh xả, có vị làm cảnh…

- Thân thức quả (thiện) đồng sanh lạc có xúc làm cảnh…

… sanh ra do đã làm việc thiện Dục giới chất chứa nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, lạc, nhứt tâm, ý quyền, lạc quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy; hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

353.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

354.

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu thọ làm cho tâm hưởng vui, hưởng sướng sanh từ nơi sự xúc chạm của thân thức giới, cách hứng chịu hỷ, lạc của tâm sanh từ thân xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy hỷ, lạc của tâm sanh từ thân xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

355.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng thân thức giới. Khi nào như thế, đó mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

356.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng thân thức giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

357.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý là ý xứ, ý quyền, thức uẩn mà thuộc về thân thức giới có trong khi nào, đây gọi là tâm có trong khi ấy.

358.

Lạc trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm vui, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ thân xúc, dụng nạp hứng chịu sự an vui sanh từ thân xúc. Như thế gọi là lạc có trong khi ấy.

359.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Sự đình trụ vững vàng của tâm trong khi nào, đây gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

360.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn mà thuộc về thân thức giới trong khi nào, đây gọi là ý quyền có trong khi ấy.

361.

Lạc quyền trong khi có ra sao? Trong khi nào thân thích, thân sướng sanh từ xúc, thân thọ lạc, hưởng sướng và trạng thái hưởng cảnh vui sướng sanh từ thân xúc trong khi nào, đây gọi là lạc quyền có trong khi ấy.

362.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền có trong khi ấy.

363.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

364.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1… thân thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi đó. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

365.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn) cũng có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn vẫn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt ngũ thức quả thiện

~~~~~~~~~~

 Ý GIỚI QUẢ THIỆN

366.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Như là ý giới quả (thiện) đồng sanh xả, hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có xúc làm cảnh. Hay là những cảnh nào mở mối phát sanh do nghiệp thiện Dục giới để làm tích trữ trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi đó. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

367.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

368.

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào sở hữu tâm hưởng sự không vui không buồn khổ sanh từ sự xúc chạm của ý giới, cách hứng chịu sự không vui không khổ (buồn) của tâm sanh từ ý xúc, thái độ dụng nạp lãnh lấy sự không vui không khổ (buồn) của tâm sanh từ ý xúc. Như thế gọi là thọ có trong khi ấy.

369.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng ý giới. Khi nào như thế đó, mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

370.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

371.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền và ý giới, đó gọi là tâm có trong khi ấy.

372.

Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh. Như thế gọi là tầm có trong khi ấy.

373.

Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự gìn giữ cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh, tâm khắn khít cảnh và cách tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

374.

Xả trong khi có ra sao? Trong khi nào sở hữu tâm hưởng phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, sự hưởng cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc, trạng thái hứng chịu phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc trong khi nào, đây gọi là xả có trong khi ấy.

375.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Sự đình trụ của tâm trong khi nào, đây gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

376.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, thức uẩn, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền hòa chung nhau với ý giới. Đây gọi là ý quyền có trong khi ấy.

377.

Xả quyền trong khi có ra sao? Khi nào sở hữu tâm phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, sự hưởng cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc, trạng thái hứng chịu phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc có trong khi nào, đây gọi là xả quyền có trong khi ấy.

378.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền có trong khi ấy.

379.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng vẫn có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

380.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1… ý giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

381.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) ngoài ra cũng như thế. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt ý giới quả thiện

~~~~~~~~~~

Ý THỨC GIỚI QUẢ THIỆN
  • ĐỒNG SANH HỶ THỌ

382.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới quả (thiện) đồng sanh hỷ thọ, hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh; hay là những cảnh nào mở mối sanh ra do thiện Dục giới đã làm tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, ý quyền, (thọ) hỷ quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi đó. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

383.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

384.

Thọ trong khi có ra sao? Sự làm trong tâm vui, sự làm trong tâm vui thích sanh từ nơi xúc hòa trộn với ý thức giới, sự hưởng (cảnh) vui thích sanh từ nơi ý xúc, thái độ hứng chịu (cảnh) vui thích sanh từ ý xúc, lúc nào như thế đây gọi là thọ có trong khi ấy.

385.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế, đó mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

386.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

387.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn thuộc ý thức giới có trong khi nào, đây gọi là tâm có trong khi ấy.

388.

Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh có trong khi nào, thì tầm có trong khi ấy.

389.

Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự giữ gìn cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh, tâm khắn khít cảnh và cách tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

390.

Pháp hỷ trong khi có ra sao? Khi nào có sự mừng no cả thân tâm, sự hớn hở, sự hân hoan, sự hài lòng, vui tươi, hoan lạc và rất mừng. Như thế gọi là pháp hỷ có trong khi ấy.

391.

Lạc trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm vui, sở hữu tâm lạc, hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc, dụng nạp hứng chịu an vui sanh từ ý xúc. Như thế gọi là lạc có trong khi ấy.

392.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Sự đình trụ của tâm có trong khi nào, đây gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

393.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, thức, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý xứ, ý quyền sanh từ ý thức giới có trong khi nào, thì ý quyền có trong khi ấy.

394.

Hỷ (thọ) quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hỷ, sở hữu tâm lạc, sự hưởng cảnh an vui sanh từ ý xúc, hay dụng nạp hứng chịu sự an vui sanh từ ý xúc như thế trong khi ấy vẫn có hỷ (thọ) quyền.

395.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền vẫn có trong khi ấy.

396.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

397.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1… ý thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi đó. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

398.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, nhứt tâm, mạng quyền, hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) ngoài ra cũng như thế. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt ý thức giới quả thiện đồng sanh hỷ thọ

  • Ý THỨC GIỚI QUẢ THIỆN ĐỒNG SANH XẢ THỌ

399.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới quả (thiện) đồng sanh xả thọ, hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh... Hay là những cảnh nào mở mối phát sanh do thiện Dục giới đã làm tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi đó. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

400.

Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy.

401.

Thọ trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm hưởng cảnh phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý thức giới xúc, sự hưởng cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc, trạng thái hứng chịu cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc trong khi nào, đây gọi là thọ có trong khi ấy.

402.

Tưởng trong khi có ra sao? Sự nhớ tưởng, cách nhớ tưởng, thái độ nhớ tưởng, sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Khi nào như thế mới gọi là tưởng có trong khi ấy.

403.

trong khi có ra sao? Khi nào có sự tính làm, cách định hành động, thái độ cố quyết hành động sanh từ xúc phối hợp cùng ý thức giới. Như thế gọi là tư có trong khi ấy.

404.

Tâm trong khi có ra sao? Khi nào có sự biết cảnh tức là tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn thuộc ý thức giới có trong khi nào, đây gọi là tâm có trong khi ấy.

405.

Tầm trong khi có ra sao? Khi nào có sự tìm cảnh, nghĩ ngợi, suy xét, toan tính, cách đem tâm đến cảnh, cách đem tâm áp vào cảnh, cách đem tâm khắn khít cảnh, có trong khi nào, đây gọi là tầm có trong khi ấy.

406.

Tứ trong khi có ra sao? Khi nào có sự giữ gìn cảnh cho tâm, chăm nom, kềm giữ, săn sóc cảnh cho tâm, khắn khít cảnh và cách tâm dính theo cảnh. Như thế gọi là tứ có trong khi ấy.

407.

Xả trong khi có ra sao? Khi nào sở hữu tâm phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, sự hưởng cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc, trạng thái hứng chịu phi khổ phi lạc cũng sanh từ ý xúc trong khi nào, đây gọi là xả có trong khi ấy.

408.

Nhứt tâm trong khi có ra sao? Sự đình trụ của tâm trong khi nào, đây gọi là nhứt tâm có trong khi ấy.

409.

Ý quyền trong khi có ra sao? Khi nào có tâm, ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh thức, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn thuộc ý thức giới có trong khi nào, đây gọi là ý quyền có trong khi ấy.

410.

Xả quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sở hữu tâm phi hỷ phi phi hỷ sanh từ ý xúc, sự hứng chịu phi khổ phi lạc và dụng nạp lãnh lấy cảnh phi khổ phi lạc sanh từ ý xúc. Như thế gọi là xả quyền có trong khi ấy.

411.

Mạng quyền trong khi có ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, dinh dưỡng, gọi mạng quyền tức là cách sống còn của danh pháp. Như thế gọi là mạng quyền vẫn có trong khi ấy.

412.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy.

Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

413.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1… ý thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

414.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) ngoài ra cũng thế. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt ý thức giới quả thiện đồng sanh xả thọ

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

TÁM TÂM ĐẠI QUẢ

415.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới quả (thiện) đồng sanh hỷ (thọ), tương ưng trí, hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh. Hay là những cảnh nào mở mối phát sanh... đồng sanh hỷ thọ, tương ưng trí hữu dẫn... đồng sanh hỷ thọ, bất tương ưng trí... đồng sanh hỷ thọ, bất tương ưng trí hữu dẫn... đồng sanh xả thọ, tương ưng trí... đồng sanh xả thọ, tương ưng trí hữu dẫn... đồng sanh xả thọ, bất tương ưng trí... đồng sanh xả thọ, bất tương ưng trí hữu dẫn... sanh ra do thiện Dục giới đã làm tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

416.

Căn vô ký tức là vô tham... Căn vô ký tức là vô sân... Căn vô ký tức là vô si...

Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt tám tâm đại quả.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

QUẢ SẮC GIỚI

417.

- Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến hành theo đường lối hầu đến Sắc giới, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng đề mục đất… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục… chứng sơ thiền bằng đề mục đất… thành tựu quả do thiện sắc giới đã làm tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

- Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Sắc giới, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền bằng đề mục đất trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến đắc sơ thiền bằng đề mục đất, không khổ, không lạc, do trừ lạc khổ, đặng thành tựu quả do thiện sắc giới đã làm tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt quả Sắc giới

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 QUẢ VÔ SẮC GIỚI

418.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới do vượt khỏi những tưởng hữu sắc, diệt tưởng phẫn nhuế, không tác ý tưởng dị trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Không vô biên xứ trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến do lướt qua những tưởng còn hình thức, vắng lặng tưởng phẫn nhuế không tác ý tưởng dị, trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Không vô biên xứ... thành tựu quả do thiện Vô sắc giới đã tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

419.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới nhờ lướt khỏi những tưởng Không vô biên xứ trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Thức vô biên xứ... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến vượt qua tất cả Không vô biên xứ trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Thức vô biên xứ thành tựu quả do thiện Vô sắc giới đã làm tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

420.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến theo đường lối hầu đến Vô sắc giới do lướt khỏi tất cả thức vô biên trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Vô sở hữu xứ trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến (theo đường lối hầu đến Vô sắc giới) do lướt qua khỏi tất cả Thức vô biên xứ, trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Vô sở hữu xứ... thành tựu quả do thiện Vô sắc giới đã tích trữ tạo nghiệp trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

421.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến hành theo đường lối hầu đến Vô sắc giới do lướt qua tất cả Vô sở hữu xứ, trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Phi tưởng phi phi tưởng xứ... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến lướt qua tất cả tưởng Vô sở hữu xứ, trừ luôn lạc, chứng tứ thiền đồng sanh với tưởng Phi tưởng phi phi tưởng xứ... thành tựu quả do thiện Vô sắc giới tích trữ nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt tâm quả Vô sắc giới

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 QUẢ SIÊU THẾ (Lokuttaravipāka)

(Cách rộng có 20)
QUẢ CỦA TÂM ĐẠO THỨ NHẤT

 PHẦN TỊNH TIẾN HÀNH

422.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt (vô ngã tướng) mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

423.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng (vô thường tướng) mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

424.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội (khổ não tướng) mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

425.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì, quả như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì; thiện như đây chủng vô chứng mà hành nan đắc trì, quả như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì; thiện như đây chủng phi nội mà hành nan đắc trì, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

426.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp... hành dị đắc trì… mà hành dị đắc cấp… đắc nhị thiền… đắc tam thiền… đắc tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền mà hành dị đắc cấp... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp, quả như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp; thiện như đây… chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp, quả như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp; thiện như đây… chủng phi nội mà hành dị đắc cấp, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt phần tịnh tiến hành

~~~~~~~~~~

PHẦN TỊNH TIÊU DIỆT

427.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

428.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

429.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

430.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt, quả như đây... chủng tiêu diệt, thiện như đây chủng vô chứng, quả như đây... chủng vô chứng, thiện như đây chủng phi nội, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt phần tịnh tiêu diệt

~~~~~~~~~~

TIÊU DIỆT TIẾN HÀNH

431.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

432.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

433.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

434.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ… đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì, quả như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì, quả như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì, thiện như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

435.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc cấp... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc trì... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp... chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp, quả như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp, quả như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp, thiện như đây... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt tiêu diệt tiến hành

~~~~~~~~~~

 PHẦN TỊNH TIẾN HÀNH (Suddhika Appanihita)

436.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

437.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

438.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

439.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội... trong khi nào, thiện như đây... chủng phi nội, quả như đây... chủng phi nội, thiện như đây... chủng vô chứng, quả như đây... chủng phi nội, thiện như đây... chủng tiêu diệt, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt phần tịnh tiến hành

~~~~~~~~~~

PHI NỘI TIẾN HÀNH

440.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

441.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

442.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

443.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thiện như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì, quả như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì, quả như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

444.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc cấp... chủng phi nội mà hành dị đắc trì... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp... chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội mà hành dị đắc cấp... trong khi nào, thiện như đây... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp, quả như đây... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp, quả như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt phi nội tiến hành

~~~~~~~~~~

445.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến theo đường lối siêu thế... tu niệm xứ siêu thế... tu chánh cần siêu thế... tu như ý túc siêu thế... tu thất giác chi siêu thế... tu đế siêu thế... tu chỉ siêu thế... tu pháp siêu thế... tu uẩn siêu thế... tu xứ siêu thế... tu giới siêu thế... tu thực siêu thế... tu xúc siêu thế... tu thọ siêu thế... tu tưởng siêu thế... tu tư siêu thế... tu tâm siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... chủng vô chứng... chủng phi nội mà hành nan đắc trì... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt lối rộng hai mươi

~~~~~~~~~~

446.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt... hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

447.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

448.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bậc tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bậc ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì có dục trưởng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy…. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bậc tu tiến tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng… thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy…. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

449.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bậc tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bậc ban sơ, chế chỉ tầm tứ, đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền…, đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền mà hành nan đắc trì có dục trưởng… trong khi nào, thiện như đây… chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng; quả như đây… mà hành nan đắc trì có dục trưởng; thiện như đây… chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng; quả như đây… mà hành nan đắc trì có dục trưởng; thiện như đây… chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng; quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

450.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bậc tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bậc ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền mà hành nan đắc cấp có dục trưởng… hành dị đắc trì có dục trưởng… hành dị đắc cấp có dục trưởng… chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền… tam thiền… tứ thiền… đắc sơ thiền… đắc ngũ thiền mà hành dị đắc cấp có dục trưởng… trong khi nào, thiện như đây… chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp có dục trưởng; quả như đây… mà hành dị đắc cấp có dục trưởng; thiện như đây… chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp có dục trưởng; quả như đây… mà hành dị đắc cấp có dục trưởng; thiện như đây… chủng phi nội mà hành dị đắc cấp có dục trưởng; quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

451.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bậc tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến hầu chứng bậc ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt có dục trưởng… trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bậc tu tiến tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt có dục trưởng… thành tựu quả do thiền thiện siêu thế đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

452.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục… đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

453.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

454.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt có dục trưởng... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt có dục trưởng, quả như đây... chủng tiêu diệt có dục trưởng, thiện như đây... chủng vô chứng có dục trưởng, quả như đây... chủng tiêu diệt có dục trưởng, thiện như đây... chủng phi nội có dục trưởng, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

455.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

456.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

457.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... chứng sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

458.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng, quả như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng, quả như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng, thiện như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

 459.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc cấp có dục trưởng... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc trì có dục trưởng... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp có dục trưởng... chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp có dục trưởng... trong khi nào, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, quả như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, quả như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, thiện như đây... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

460.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

461.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

462.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội có dục trưởng trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

463.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội có dục trưởng... trong khi nào, thiện như đây... chủng phi nội có dục trưởng, quả như đây... chủng phi nội có dục trưởng, thiện như đây... chủng vô chứng có dục trưởng, quả như đây... chủng vô chứng có dục trưởng, thiện như đây... chủng tiêu diệt có dục trưởng, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

464.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

465.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

466.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục, đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng... thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

467.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thiện như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng, quả như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành nan đắc trì có dục trưởng, quả như đây... chủng phi nội mà hành nan đắc trì có dục trưởng, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì có dục trưởng, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

468.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng phi nội mà hành nan đắc cấp có dục trưởng... chủng phi nội mà hành dị đắc trì có dục trưởng... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp có dục trưởng... chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng chủng phi nội mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, thiện như đây... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, quả như đây... chủng phi nội mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, thiện như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, quả như đây... chủng vô chứng mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, thiện như đây... chủng tiêu diệt mà hành dị đắc cấp có dục trưởng, quả như đây thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

469.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến theo đường lối siêu thế... tu niệm xứ siêu thế... tu chánh cần siêu thế... tu như ý túc siêu thế... tu quyền siêu thế... tu lực siêu thế.. tu giác chi siêu thế... tu đế siêu thế... tu chỉ siêu thế... tu pháp siêu thế... tu uẩn siêu thế... tu xứ siêu thế... tu giới siêu thế... tu thực siêu thế... tu xúc siêu thế... tu thọ siêu thế... tu tưởng siêu thế... tu tư siêu thế... tu tâm siêu thế là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo đặng trừ tà kiến, hầu chứng bực ban sơ, tĩnh ly chư dục…, đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì có dục trưởng... trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bực tu tiến tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì... chủng vô chứng... chủng phi nội có dục trưởng... có cần trưởng... có tâm trưởng... có thẩm trưởng thành tựu quả do thiền thiện siêu thế đã tu tiến đặng xong như lối đó trong khi nào, thì xúc… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt quả của tâm đạo thứ nhứt

~~~~~~~~~~

QUẢ CỦA TÂM ĐẠO THỨ HAI, BA VÀ TƯ

470.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Bực tu tiến siêu thế có thiền là cơ quan ra khỏi khổ, đưa đến rốt ráo, hầu chứng bực thứ hai đặng cho nhẹ nhàng tham ái và sân độc. Hầu chứng bực thứ ba đặng trừ tuyệt tham ái và sân độc… hầu chứng bậc thứ tư đặng trừ tuyệt sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật và vô minh không còn, tĩnh ly chư dục đắc sơ thiền mà hành nan đắc trì… trong khi nào, thì xúc… tri dĩ tri quyền… vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp thiện.

Bậc tu tiến tĩnh ly chư dục đắc sơ thiền bằng chủng tiêu diệt mà hành nan đắc trì… thành tựu quả do thiền thiện siêu thế, đã tu hành đặng xong trong khi nào, thì xúc… tri cụ tri quyền… vô phóng dật có trong khi ấy… hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy…. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

471.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy….

- Tri cụ tri quyền trong khi có ra sao? Tuệ là sáng suốt, khôn khéo, nhận rõ, hiểu thấu, trạch pháp, lựa chọn, nghiên cứu, hiểu biết, rõ đặc tính, thấu vi tế, cách trí thức, cách hiểu rành, sự nghĩ ngợi, suy xét, gạn xét, quán xét, tuệ như ngọc, tuệ như đèn, tuệ như ánh sáng, tuệ như gươm, tuệ như vũ khí, tuệ như đại địa, tuệ như hoàng cung, tuệ như kẻ dẫn đường, tuệ trừ tuyệt phiền não, trạch pháp, chánh kiến, trạch pháp giác chi, là chi của đạo, liên quan trong đạo. Khi nào như thế, đây gọi là tri cụ tri quyền có trong khi ấy… hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi đó. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt quả siêu thế.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 VÔ KÝ QUẢ BẤT THIỆN

472.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Nhãn thức quả (bất thiện) đồng sanh xả có sắc làm cảnh phát sanh…

- Nhĩ thức quả (bất thiện) đồng sanh xả có thinh làm cảnh phát sanh…

Tỷ thức quả (bất thiện) đồng sanh xả có khí làm cảnh phát sanh…

- Thiệt thức quả (bất thiện) đồng sanh xả có vị làm cảnh phát sanh…

- Thân thức quả (bất thiện) đồng sanh khổ có xúc làm cảnh phát sanh do bất thiện đã… làm chất chứa nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, khổ, nhất tâm, ý quyền, khổ quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy.

Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký….

473.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm. Lúc nào như thế, đây gọi là xúc có trong khi ấy….

- Thọ trong khi có ra sao? Sự không thích hợp với thân, sự khổ thân sanh từ xúc, hòa trộn nơi thân thức giới; sự hưởng cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ nơi thân xúc; thái độ hứng chịu cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ nơi thân xúc. Lúc nào như thế, đây gọi là thọ có trong khi ấy.

- Khổ trong khi có ra sao? Sự không thích hợp với thân, sự khổ thân sanh từ xúc hòa trộn nơi thân xúc; sự hưởng cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ nơi thân xúc; thái độ hứng chịu cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ nơi thân xúc. Lúc nào như thế, đây gọi là khổ có trong khi ấy.

- Khổ quyền trong khi có ra sao? Sự không thích hợp với thân, sự khổ thân sanh từ xúc, hòa trộn nơi thân xúc; sự hưởng cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ nơi thân xúc; thái độ hứng chịu cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ nơi thân xúc. Lúc nào như thế, đây gọi là khổ quyền có trong khi ấy... Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

474.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1… thân thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

475.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) ngoài ra cũng có. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

476.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới thành quả đồng sanh xả hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có xúc làm cảnh. Hay là những cảnh nào mở mối sanh ra do bất thiện đã làm tích trữ nghiệp tạo ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

477.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1, ý giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

478.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) ngoài ra cũng có. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

479.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới thành quả đồng sanh xả hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh. Hay là những cảnh nào mở mối sanh ra do bất thiện đã làm chất chứa nghiệp tạo trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

480.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1... ý thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

481.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) cũng có trong khi ấy. Đây gọi là hành uẩn có trong khi đó. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt vô ký quả bất thiện

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

DỤC GIỚI TỐ (Kāmāvacarakiriyā)

482.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý giới thành tố phi thiện phi bất thiện và phi dị thục quả do nghiệp tạo, đồng sanh xả hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có xúc làm cảnh. Hay những cảnh chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

483.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, tam quyền, xúc 1, ý giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi đó. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

484.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, thọ, tầm, tứ, nhứt tâm, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) đều có trong khi đó. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

485.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới thành tố phi thiện phi bất thiện và phi nghiệp quả, đồng sanh hỷ (thọ), hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh. Hay là những cảnh chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, (pháp) hỷ, lạc, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, hỷ (thọ) quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

486.

- Xúc trong khi có ra sao? Khi nào có sự đụng, cách chạm nhau, hành vi đụng chạm, thái độ xúc chạm, lúc nào như thế đây gọi là xúc có trong khi ấy.

- Nhứt tâm trong khi có ra sao? Khi nào tâm đình trụ một chỗ, vững lòng vắng lặng, không tán loạn, không lao chao, tâm không bối rối, pháp chỉ, định quyền, định lực và chánh định có trong khi nào, thì nhứt tâm có trong khi ấy.

- Cần quyền trong khi có ra sao? Sự siêng năng của tâm, cách cố gắng, trạng thái tinh tấn, sự sấn sướt, sự lướt tới, thái độ tiến đến, sự ráng thêm, cách chịu đựng, lối bền dẻo, không lui sụt, không lơ là, không bỏ qua việc làm, duy trì phận sự, cũng gọi cần, cần quyền hay cần lực có trong khi nào, đây gọi là cần quyền có trong khi ấy.

- Định quyền trong khi có ra sao? Sự đình trụ của tâm, cách đình trụ của tâm, sự vững vàng của tâm, tâm không tán loạn, không lao chao, không xao xuyến, sự vắng lặng, cũng gọi chỉ hay định quyền, định lực có trong khi nào, đây gọi là định quyền có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

487.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, xúc 1, ý thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1 đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

488.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, (pháp) hỷ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) đều có trong khi đó. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

489.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới thành tố (kiriyā) phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả (kammavipāka) đồng sanh xả hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh. Hay là những cảnh chi mở mối sanh ra trong khi nào, thì xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, tầm, tứ, xả, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, ý quyền, xả quyền, mạng quyền đều có trong khi ấy. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh cũng có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

490.

Như là tứ uẩn, nhị xứ, nhị giới, tam thực, ngũ quyền, xúc 1, ý thức giới 1, pháp xứ 1, pháp giới 1. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh đều có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

491.

Hành uẩn trong khi có ra sao? Như là xúc, tư, tầm, tứ, nhứt tâm, cần quyền, định quyền, mạng quyền. Hay là những pháp phi sắc nào khác nương sanh (mà trừ ra thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn) đều có trong khi đó. Đây gọi là hành uẩn có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

492.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Ý thức giới thành tố phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, đồng sanh hỷ tương ưng trí, hoặc có sắc làm cảnh... hoặc có pháp làm cảnh. Hay là những cảnh chi mở mối sanh ra... đồng sanh hỷ, tương ưng trí hữu dẫn... đồng sanh hỷ bất tương ưng trí… Câu sanh hỷ, bất tương ưng trí hữu dẫn... đồng sanh xả tương ưng trí... đồng sanh xả tương ưng trí hữu dẫn... đồng sanh xả bất tương ưng trí... đồng sanh xả bất tương ưng trí hữu dẫn sanh ra trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

493.

Căn vô ký tức là vô tham... Căn vô ký tức là vô sân... Căn vô ký tức là vô si... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt Dục giới tố

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

SẮC GIỚI TỐ (Rūpāvacarakiriyā)

494.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực Ứng cúng tu tiến thiền Sắc giới tố (kiriyā) phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, an vui tại thế, tĩnh ly chư dục... đắc sơ thiền bằng đề mục đất… trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

495.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực Ứng cúng tu tiến thiền Sắc giới tố, phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, an vui tại thế, chế chỉ tầm tứ đắc nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... đắc sơ thiền... đắc ngũ thiền bằng đề mục đất… trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt Sắc giới tố

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

VÔ SẮC GIỚI TỐ (Arūpāvacarakiriyā)

496.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực Ứng cúng tu tiến thiền Vô sắc giới tố phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, chỉ an vui hiện thế do lướt khỏi những sắc tưởng nhờ sự vắng lặng nơi tưởng phẫn nhuế do không tác ý tưởng dị, trừ luôn lạc chứng tứ thiền đồng sanh với tưởng Không vô biên xứ không khổ không lạc, đã trừ lạc khổ... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

497.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực Ứng cúng tu tiến thiền Vô sắc giới tố phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, chỉ an vui hiện tại do vượt qua những tưởng Không vô biên xứ, trừ luôn lạc mới chứng tứ thiền đồng sanh với tưởng Thức vô biên xứ phi khổ phi lạc do trừ lạc khổ... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

498.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực Ứng cúng tu tiến thiền Vô sắc giới tố, phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, chỉ an vui hiện thế do lướt qua những tưởng Thức vô biên xứ, trừ luôn lạc chứng tứ thiền đồng sanh với tưởng Vô sở hữu xứ, không khổ không lạc, do trừ lạc khổ... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

499.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Bực Ứng cúng tu tiến thiền Vô sắc giới tố, phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, chỉ an vui hiện thế do vượt qua những tưởng Vô sở hữu xứ, trừ luôn lạc, đắc tứ thiền đồng sanh với tưởng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không khổ, không lạc, do trừ lạc khổ... trong khi nào, thì xúc... vô phóng dật có trong khi ấy... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

500.

Căn vô ký tức là vô tham... Căn vô ký tức là vô sân... Căn vô ký tức là vô si... Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

Dứt Vô sắc giới tố, dứt tập tâm sanh

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 




Phần C. THIÊN SẮC PHÁP

(Rūpakaṇdaṃ)

 

501.

Chư pháp vô ký trong khi có ra sao?

Quả của pháp thiện và bất thiện trong cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, pháp thành tố, phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, tất cả sắc pháp và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là pháp vô ký.

502.

Tất cả sắc pháp là chi?

Như là sắc tứ đại sung và sắc y sinh nương sắc tứ đại sung, đó gọi là tất cả sắc pháp.

~~~~~~~~~~

I. ĐẦU ĐỀ (Mātika)

 PHẦN NHỨT ĐỀ

503.

Tất cả sắc pháp cũng gọi là phi nhân, vô nhân, bất tương ưng nhân, hành động theo với duyên thành pháp hữu vi, thành sắc pháp, thành pháp hiệp thế, thành cảnh của lậu, thành cảnh của triền, thành cảnh của phược, thành cảnh của bộc, thành cảnh của phối, thành cảnh của cái, thành cảnh của khinh thị, thành cảnh của thủ, thành cảnh của phiền não, thành cảnh của pháp vô ký, thành không biết cảnh, thành phi sở hữu tâm, thành bất tương ưng tâm, thành phi dị thục quả, thành phi dị thục nhân, thành phi phiền toái mà cảnh phiền não, thành phi pháp hữu tầm hữu tứ, thành phi pháp vô tầm hữu tứ, thuộc pháp vô tầm vô tứ, thành phi pháp đồng sanh hỷ, thành phi pháp đồng sanh lạc, thành pháp phi đồng sanh xả, thành pháp phi sơ đạo tuyệt trừ, thành pháp phi ba đạo cao tuyệt trừ, thành pháp phi hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ, thành pháp phi hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ, thành phi nhân sanh tử, thành phi nhân đến Níp Bàn, thành phi hữu học, thành phi vô học, thành pháp hy thiểu, thành pháp Dục giới, thành pháp phi sắc giới, thành pháp phi Vô sắc giới, thành pháp hiệp thế, thành phi pháp siêu thế, thành pháp bất định, thành pháp phi bất định, thành pháp hiện tại bị lục thức biết, nó là vô thường, đã bị sự già bao vây. Sắc yếu hiệp phần một như thế này.

Dứt phần nhứt đề

~~~~~~~~~~

PHẦN NHỊ ĐỀ

504.

Sắc yếu hiệp phần hai:

- Chơn sắc y sinh cũng có; chơn sắc phi y sinh cũng có.

- Chơn sắc thủ cũng có; chơn sắc phi thủ cũng có.

- Chơn sắc thủ cảnh thủ cũng có; chơn sắc phi thủ cảnh thủ cũng có.

- Chơn sắc bị thấy cũng có; chơn sắc không bị thấy cũng có.

- Chơn sắc đối chiếu cũng có; chơn sắc không đối chiếu cũng có.

- Chơn sắc quyền cũng có; chơn sắc phi quyền cũng có.

- Chơn sắc đại sung cũng có; chơn sắc phi đại sung cũng có.

- Chơn sắc biểu tri cũng có; chơn sắc phi biểu tri cũng có.

- Chơn sắc có tâm làm sở sanh cũng có; chơn sắc không có tâm làm sở sanh cũng có.

- Chơn sắc sanh chung với tâm cũng có; chơn sắc không sanh chung với tâm cũng có.

- Chơn sắc luân chuyển theo tâm cũng có; chơn sắc không luân chuyển theo tâm cũng có.

- Chơn sắc bên trong cũng có; chơn sắc bên ngoài cũng có.

- Chơn sắc thô cũng có; chơn sắc tế cũng có.

- Chơn sắc viễn cũng có; chơn sắc cận cũng có.

- Chơn sắc nương nhãn xúc sanh ra cũng có; chơn sắc không nương nhãn xúc sanh ra cũng có.

- Chơn sắc nương thọ sanh ra do nhãn xúc... (nương) tưởng... (nương) tư... (nương) nhãn thức cũng có; chơn sắc không phải nhãn thức nương sanh ra cũng có.

- Chơn sắc chỗ nương của nhĩ xúc sanh ra... của tỷ xúc... của thiệt xúc... của thân xúc cũng có; chơn sắc chẳng phải chỗ nương của thân xúc sanh ra cũng có.

- Chơn sắc mà thọ nương sanh từ thân xúc... tưởng... tư... thân thức cũng có; chơn sắc không phải chỗ nương của thân thức cũng có.

- Chơn sắc cảnh của nhãn xúc cũng có; chơn sắc phi cảnh của nhãn xúc cũng có.

- Chơn sắc cảnh của thọ sanh từ nhãn xúc... của tưởng... của tư... của nhãn thức cũng có; chơn sắc phi cảnh của nhãn thức cũng có.

- Chơn sắc cảnh của nhĩ xúc... của tỷ xúc... của thiệt xúc... của thân xúc cũng có; chơn sắc phi cảnh của thân xúc cũng có.

- Chơn sắc cảnh của thọ sanh từ thân xúc... của tưởng... của tư... của thân thức cũng có; chơn sắc phi cảnh của thân thức cũng có.

- Chơn sắc thành nhãn xứ cũng có; chơn sắc phi nhãn xứ cũng có.

- Chơn sắc thành nhĩ xứ cũng có; chơn sắc phi nhĩ xứ cũng có.

- Chơn sắc thành tỷ xứ... thiệt xứ... thân xứ cũng có; chơn sắc phi thành thân xứ cũng có.

- Chơn sắc thành sắc xứ cũng có; chơn sắc thành phi sắc xứ cũng có.

- Chơn sắc thành thinh xứ... khí xứ... vị xứ... xúc xứ cũng có; chơn sắc thành phi xúc xứ cũng có.

- Chơn sắc thành nhãn giới cũng có; chơn sắc phi nhãn giới cũng có.

- Chơn sắc thành nhĩ giới... thành tỷ giới... thành thiệt giới... thành thân giới cũng có; chơn sắc thành phi thân giới cũng có.

- Chơn sắc thành sắc giới cũng có; chơn sắc thành phi sắc giới cũng có.

- Chơn sắc thành thinh giới... khí giới... vị giới... xúc giới cũng có; chơn sắc thành phi xúc giới cũng có.

- Chơn sắc thành nhãn quyền cũng có; chơn sắc thành phi nhãn quyền cũng có.

- Chơn sắc thành nhĩ quyền... thành tỷ quyền... thành thiệt quyền... thành thân quyền cũng có; chơn sắc thành phi thân quyền cũng có.

- Chơn sắc thành nữ quyền cũng có; chơn sắc thành phi nữ quyền cũng có.

- Chơn sắc thành nam quyền cũng có; chơn sắc thành phi nam quyền cũng có.

- Chơn sắc thành mạng quyền cũng có; chơn sắc thành phi mạng quyền cũng có.

- Chơn sắc thành thân biểu tri cũng có; chơn sắc thành phi thân biểu tri cũng có.

- Chơn sắc thành khẩu biểu tri cũng có; chơn sắc thành phi khẩu biểu tri cũng có.

- Chơn sắc hư không [4] chất cũng có; chơn sắc phi hư không chất cũng có.
- Chơn sắc thủy chất cũng có; chơn sắc phi thủy chất cũng có.

- Chơn sắc thành sắc khinh cũng có; chơn sắc thành phi sắc khinh cũng có.

- Chơn sắc thành sắc thích dụng [5] cũng có; chơn sắc thành phi sắc thích dụng cũng có.

- Chơn sắc sanh (upacaya) cũng có; chơn sắc phi sắc sanh cũng có.
- Chơn sắc thành sắc thừa kế (santati) cũng có; chơn sắc thành phi sắc thừa kế (santati) cũng có.

- Chơn sắc thành sắc lão cũng có; chơn sắc thành phi sắc lão cũng có.

- Chơn sắc thành sắc vô thường (aniccatā) cũng có; chơn sắc thành phi sắc vô thường cũng có.

- Chơn sắc thành đoàn thực cũng có; chơn sắc thành phi đoàn thực cũng có.

Sắc yếu hiệp phần nhị như đây.

Dứt phần Nhị đề

~~~~~~~~~~

PHẦN TAM ĐỀ

505.

Tam yếu hiệp sắc

- Sắc nội thành y sinh. Sắc ngoại thành y sinh cũng có, thành phi y sinh cũng có.

- Sắc nội thành thủ. Sắc ngoại thành thủ cũng có, thành phi thủ cũng có.

- Sắc nội thành thủ cảnh thủ. Sắc ngoại thành thủ cảnh thủ cũng có, thành phi thủ cảnh thủ cũng có.

- Sắc nội thành bất kiến. Sắc ngoại thành kiến cũng có, thành bất kiến cũng có.

- Sắc nội thành đối chiếu. Sắc ngoại thành đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có.

- Sắc nội thành quyền. Sắc ngoại thành quyền cũng có, thành phi quyền cũng có.

- Sắc nội thành phi đại sung. Sắc ngoại thành đại sung cũng có, thành phi đại sung cũng có.

- Sắc nội thành phi biểu tri. Sắc ngoại thành biểu tri cũng có, thành phi biểu tri cũng có.

- Sắc nội thành không nương tâm làm sở sanh. Sắc ngoại thành nương tâm làm sở sanh cũng có, thành không nương tâm làm sở sanh cũng có.

- Sắc nội thành phi đồng sanh tồn với tâm. Sắc ngoại thành đồng sanh tồn với tâm cũng có, thành phi đồng sanh tồn với tâm cũng có.

- Sắc nội thành phi tùng tâm thông lưu. Sắc ngoại thành tùng tâm thông lưu cũng có, thành phi tùng tâm thông lưu cũng có.

- Sắc nội thành thô. Sắc ngoại thành thô cũng có, thành tế cũng có.

- Sắc nội thành cận. Sắc ngoại thành cận cũng có, thành viễn cũng có.

- Sắc ngoại không nương nhãn xúc sanh. Sắc nội nương nhãn xúc sanh cũng có, không nương nhãn xúc sanh cũng có.

- Sắc ngoại không nương thọ sanh từ nhãn xúc... tưởng... tư... nhãn thức. Sắc nội nương nhãn thức cũng có, không nương nhãn thức cũng có.

- Sắc ngoại không nương nhĩ xúc sanh... tỷ xúc... thiệt xúc... thân xúc. Sắc nội nương thân xúc sanh cũng có, không nương thân xúc sanh cũng có.

- Sắc ngoại không nương thọ sanh từ thân xúc... tưởng... tư... thân thức. Sắc nội nương thân thức sanh ra cũng có, không nương thân thức sanh ra cũng có.

- Sắc nội không thành cảnh của nhãn xúc. Sắc ngoại thành cảnh của nhãn xúc cũng có, không thành cảnh của nhãn xúc cũng có.

- Sắc nội không thành cảnh của thọ sanh từ nhãn xúc... của tưởng... của tư... của nhãn thức. Sắc ngoại thành cảnh của nhãn thức cũng có, không thành cảnh của nhãn thức cũng có.

- Sắc nội không thành cảnh của nhĩ xúc... tỷ xúc... thiệt xúc... thân xúc. Sắc ngoại thành cảnh của thân xúc cũng có, không thành cảnh của thân xúc cũng có.

- Sắc nội thành cảnh của thọ sanh từ thân xúc... của tưởng... của tư... của thân thức. Sắc ngoại thành cảnh của thân thức cũng có, không thành cảnh của thân thức cũng có.

Sắc ngoại thành phi nhãn xứ. Sắc nội thành nhãn xứ cũng có, thành phi nhãn xứ cũng có.

Sắc ngoại thành phi nhĩ xứ... thành phi tỷ xứ... thành phi thiệt xứ... thành phi thân xứ. Sắc nội thành thân xứ cũng có, thành phi thân xứ cũng có.

Sắc nội không thành sắc xứ. Sắc ngoại thành sắc xứ cũng có, không thành sắc xứ cũng có.

Sắc nội không thành thinh xứ... không thành khí xứ... không thành vị xứ... không thành xúc xứ. Sắc ngoại thành xúc xứ cũng có, không thành xúc xứ cũng có.

Sắc ngoại không thành nhãn giới. Sắc nội thành nhãn giới cũng có, không thành nhãn giới cũng có.

Sắc ngoại không thành nhĩ giới... không thành tỷ giới... không thành thiệt giới... không thành thân giới. Sắc nội thành thân giới cũng có, không thành thân giới cũng có.

Sắc nội không thành sắc giới. Sắc ngoại thành sắc giới cũng có, không thành sắc giới cũng có.

Sắc nội không thành thinh giới... không thành khí giới... không thành vị giới... không thành xúc giới. Sắc ngoại thành xúc giới cũng có, không thành xúc giới cũng có.

Sắc ngoại không thành nhãn quyền. Sắc nội thành nhãn quyền cũng có, không thành nhãn quyền cũng có.

Sắc ngoại không thành nhĩ quyền... không thành tỷ quyền... không thành thiệt quyền... không thành thân quyền. Sắc nội thành thân quyền cũng có, không thành thân quyền cũng có.

Sắc nội không thành nữ quyền. Sắc ngoại thành nữ quyền cũng có, không thành nữ quyền cũng có.

Sắc nội không thành nam quyền. Sắc ngoại thành nam quyền cũng có, không thành nam quyền cũng có.

Sắc nội không thành mạng quyền. Sắc ngoại thành mạng quyền cũng có, không thành mạng quyền cũng có.

Sắc nội không thành thân biểu tri. Sắc ngoại thành thân biểu tri cũng có, không thành thân biểu tri cũng có.

Sắc nội không thành khẩu biểu tri. Sắc ngoại thành khẩu biểu tri cũng có, không thành khẩu biểu tri cũng có.

Sắc nội không thành hư không giới. Sắc ngoại thành hư không giới cũng có, không thành hư không giới cũng có.

Sắc nội không thành thủy chất. Sắc ngoại thành thủy chất cũng có, không thành thủy chất cũng có.

Sắc nội không thành sắc khinh. Sắc ngoại thành sắc khinh cũng có, không thành sắc khinh cũng có.

Sắc nội không thành sắc nhu. Sắc ngoại thành sắc nhu cũng có, không thành sắc nhu cũng có.

Sắc nội không thành sắc thích dụng. Sắc ngoại thành sắc thích dụng cũng có, không thành sắc thích dụng cũng có.

Sắc nội không thành sắc sanh. Sắc ngoại thành sắc sanh (upacaya) cũng có, không thành sắc sanh cũng có.

Sắc nội không thành sắc thừa kế (santati). Sắc ngoại thành sắc thừa kế cũng có, không thành sắc thừa kế cũng có.

Sắc nội không thành sắc lão (jaratā). Sắc ngoại thành sắc lão cũng có, không thành sắc lão cũng có.

Sắc nội không thành sắc vô thường (aniccatā). Sắc ngoại thành sắc vô thường cũng có, không thành sắc vô thường cũng có.

Sắc nội không thành đoàn thực. Sắc ngoại thành đoàn thực cũng có, không thành đoàn thực cũng có.

Tam yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu

Dứt phần tam đề

~~~~~~~~~~

PHẦN TỨ ĐẦU ĐỀ

506.

T yếu hiệp sắc

- Sắc y sinh thành thủ cũng có, thành phi thủ cũng có. Sắc bất y sinh thành thủ cũng có, thành phi thủ cũng có.

Sắc y sinh thành thủ cảnh thủ cũng có, thành phi thủ cảnh thủ cũng có. Sắc bất y sinh thành thủ cảnh thủ cũng có, thành phi thủ cảnh thủ cũng có.

Sắc y sinh thành đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có. Sắc bất y sinh thành đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có.

Sắc y sinh thành thô cũng có, thành tế cũng có. Sắc bất y sinh thành thô cũng có, thành tế cũng có.

Sắc y sinh thành viễn cũng có, thành cận cũng có. Sắc bất y sinh thành viễn cũng có, thành cận cũng có.

Sắc thủ thành hữu kiến cũng có, thành bất kiến cũng có. Sắc phi thủ thành hữu kiến cũng có, thành bất kiến cũng có.

Sắc thủ thành đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có. Sắc phi thủ thành đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có.

Sắc thủ thành tứ đại sung cũng có, không thành tứ đại sung cũng có. Sắc phi thủ thành tứ đại sung cũng có, không thành tứ đại sung cũng có.

Sắc thủ thành thô cũng có, thành tế cũng có. Sắc phi thủ thành thô cũng có, thành tế cũng có.

Sắc thủ thành viễn cũng có, thành cận cũng có. Sắc phi thủ thành viễn cũng có, thành cận cũng có.

Sắc thủ cảnh thủ thành hữu kiến cũng có, thành bất kiến cũng có. Sắc phi thủ cảnh thủ thành hữu kiến cũng có, thành bất kiến cũng có.

Sắc thủ cảnh thủ thành hữu đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có. Sắc phi thủ cảnh thủ thành hữu đối chiếu cũng có, thành vô đối chiếu cũng có.

Sắc thủ cảnh thủ thành đại sung cũng có, không thành đại sung cũng có. Sắc phi thủ cảnh thủ thành đại sung cũng có, không thành đại sung cũng có.

Sắc thủ cảnh thủ thành thô cũng có, thành tế cũng có. Sắc phi thủ cảnh thủ thành thô cũng có, thành tế cũng có.

Sắc thủ cảnh thủ thành viễn cũng có, thành cận cũng có. Sắc phi thủ cảnh thủ thành viễn cũng có, thành cận cũng có.

Sắc xúc chạm đặng thành quyền cũng có, không thành quyền cũng có. Sắc xúc chạm không đặng thành quyền cũng có, không thành quyền cũng có.

Sắc xúc chạm đặng thành đại sung cũng có, không thành đại sung cũng có. Sắc xúc chạm không đặng thành đại sung cũng có, không thành đại sung cũng có.

Sắc quyền thành thô cũng có, thành tế cũng có. Sắc phi quyền thành thô cũng có, thành tế cũng có.

Sắc quyền thành viễn cũng có, thành cận cũng có. Sắc phi quyền thành viễn cũng có, thành cận cũng có.

Sắc tứ đại sung thành thô cũng có, thành tế cũng có. Sắc phi đại sung thành thô cũng có, thành tế cũng có.

Sắc đại sung thành viễn cũng có, thành cận cũng có. Sắc phi đại sung thành viễn cũng có, thành cận cũng có.

Sắc thấy đặng, sắc nghe đặng, sắc biết đặng, sắc tỏ ngộ đặng.

Tứ yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần tứ đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN NGŨ ĐẦU ĐỀ

507.

Ngũ yếu hiệp sắc. Chất đất, chất nước, chất lửa, chất gió và sắc y sinh.

Ngũ yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần ngũ đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN LỤC ĐẦU ĐỀ

508.

Lục yếu hiệp sắc. Sắc mà nhãn thức biết đặng, sắc mà nhĩ thức biết đặng, sắc mà tỷ thức biết đặng, sắc mà thiệt thức biết đặng, sắc mà thân thức biết đặng, sắc mà ý thức biết đặng. Lục yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần lục đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN THẤT ĐẦU ĐỀ

509.

Thất yếu hiệp sắc. Sắc mà nhãn thức đáng biết, sắc mà nhĩ thức đáng biết, sắc mà tỷ thức đáng biết, sắc mà thiệt thức đáng biết, sắc mà thân thức đáng biết, sắc mà ý giới đáng biết, sắc mà ý thức giới đáng biết. Thất yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần thất đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN BÁT ĐẦU ĐỀ

510.

Bát yếu hiệp sắc. Sắc mà nhãn thức phải biết, sắc mà nhĩ thức phải biết, sắc mà tỷ thức phải biết, sắc mà thiệt thức phải biết, sắc mà thân thức phải biết, đụng sướng cũng có, đụng khổ cũng có, sắc mà ý giới nên biết và sắc mà ý thức giới nên biết. Bát yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần bát đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN CỬU ĐẦU ĐỀ (CỬU YẾU HIỆP)

511.

Cửu yếu hiệp sắc. Nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền và sắc phi quyền. Cửu yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần cửu đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN THẬP ĐẦU ĐỀ

512.

Thập yếu hiệp sắc. Nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, sắc phi quyền đụng chạm chẳng đặng cũng có, đụng chạm không đặng cũng có. Thập yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần thập đầu đề

~~~~~~~~~~

PHẦN THẬP NHỨT ĐẦU ĐỀ

513.

Thập nhứt yếu hiệp sắc. Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ và sắc bất kiến vô đối chiếu mà liên hệ trong pháp xứ. Thập nhất yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần thập nhứt đầu đề và dứt đầu đề

~~~~~~~~~~

II. THẬP NHỨT ĐỀ XIỂN MINH

PHẦN NHỨT XIỂN MINH

514.

Tất cả sắc pháp đều là phi nhân, đều là vô nhân, đều là bất tương ưng nhân, đều là hữu duyên, đều là hữu vi, đều gọi là sắc, đều là hiệp thế, đều là cảnh lậu, đều là cảnh triền, đều là cảnh phược, đều là cảnh bộc, đều là cảnh phối, đều là cảnh cái, đều là cảnh khinh thị, đều là cảnh thủ, đều là cảnh phiền não, đều là pháp vô ký, đều là không biết cảnh, đều là phi sở hữu tâm, đều là bất tương ưng tâm, đều là phi dị thục quả, đều là phi dị thục nhân, đều là phi phiền toái mà cảnh phiền não, đều là phi pháp hữu tầm hữu tứ, đều là phi pháp vô tầm hữu tứ, đều là pháp vô tầm vô tứ, đều là phi đồng sanh pháp hỷ, đều là phi đồng sanh lạc, đều là phi đồng sanh xả, đều là phi sơ đạo và phi ba đạo cao tuyệt trừ, đều là chẳng phải hữu nhân sơ đạo và ba đạo cao tuyệt trừ, đều là phi nhân sanh tử và phi nhân đến Níp Bàn, đều là phi hữu học và phi vô học, đều là pháp hy thiểu, đều là pháp Dục giới, đều là phi Sắc giới, đều là phi Vô sắc giới, đều là pháp liên quan luân hồi, đều là phi siêu thế, đều là bất định, đều là không đưa ra khỏi khổ, đều là vô thường, đều bị sự già bao vây, đều bị 6 thức hiện tại biết đặng. Sắc yếu hiệp phần nhứt chỉ có bấy nhiêu.

Dứt phần nhứt xiển minh

~~~~~~~~~~

PHẦN NHỊ XIỂN MINH

515.

Sắc y sinh là chi? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, thân biểu tri, khẩu biểu tri, hư không giới [6], sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc sanh (upacaya) [7], sắc thừa kế (santati), sắc lão (jarata), sắc vô thường (aniccata) và đoàn thực.

516.

- Sắc mà gọi là nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào thành sắc thần kinh[8] nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành không thấy mà đối chiếu đặng, chúng sanh đã thấy, đang thấy, sẽ thấy, nên thấy thứ sắc thấy đặng và đối chiếu (do thâu bằng thần kinh nhãn), thứ sắc thấy không đặng mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là nhãn, cũng gọi là nhãn xứ, cũng gọi là nhãn giới, cũng gọi là nhãn quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi con ngươi, cũng gọi con mắt, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi luống không, nhà trống. Những sắc này gọi là nhãn xứ.

- Sắc mà gọi là nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào thành sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể mà thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Nhập với sắc hữu kiến và đối chiếu đặng, đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc nên đối chiếu, thứ nhãn nào mà thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là nhãn, cũng gọi là nhãn xứ, cũng gọi là nhãn giới, cũng gọi là nhãn quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi con ngươi, cũng gọi là trống không, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi nhà trống, luống không. Những sắc này gọi là nhãn xứ.

- Sắc mà gọi là nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào thành sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, là thức không thấy mà đối chiếu đặng. Nhãn nào là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc nên đối chiếu, nhập với sắc hữu kiến và đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là nhãn, cũng gọi là nhãn xứ, cũng gọi là nhãn giới, cũng gọi là nhãn quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là ranh giới, cũng gọi là vật, cũng gọi nhà trống, cũng gọi là con mắt, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi nhà trống luống không. Những sắc này gọi là nhãn xứ.

- Sắc mà gọi là nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào thành sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, là thứ không thấy mà đối chiếu đặng, do nương nhãn nào mà nhãn xúc mở mối, sắc hoặc đã sanh ra rồi, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc nên sanh... .; do nhờ nương nhãn nào mà thọ sanh ra từ nhãn xúc... tưởng... tư... nhãn thức khai đoan cho sắc hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc nên sanh...; do nương nhãn nào thì nhãn xúc nhờ sắc làm cảnh hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc nên sanh...; do nương nhãn nào, thọ mà sanh từ nhãn xúc... tưởng... tư... nhãn thức có sắc làm cảnh, hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc nên sanh. Đây cũng gọi là nhãn, cũng gọi là nhãn xứ, cũng gọi là nhãn giới, cũng gọi là nhãn quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là ranh giới, cũng gọi là vật, cũng gọi là trống, cũng gọi con mắt, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi nhà trống luống không. Những sắc này gọi là nhãn xứ.

517.

- Sắc mà gọi là nhĩ xứ đó ra sao? Nhĩ nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên quan thân thể, là đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng (mà chúng sanh) hoặc đã nghe, hoặc đang nghe, hoặc sẽ nghe, hoặc đang nghe những tiếng là thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Nhĩ nào là thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là nhĩ, cũng gọi là nhĩ nhập, cũng gọi là nhĩ xứ, cũng gọi là nhĩ giới, cũng gọi là nhĩ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là nhĩ xứ.

- Sắc mà gọi là nhĩ xứ đó ra sao? Nhĩ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành đồ bất kiến hữu đối chiếu, nhập với thinh là thứ không thấy mà đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu. Thuộc nhĩ nào là đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là nhĩ, cũng gọi là nhĩ xứ, cũng gọi là nhĩ giới, cũng gọi là nhĩ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là nhĩ xứ.

- Sắc mà gọi là nhĩ xứ đó ra sao? Nhĩ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành đồ không thấy mà đối chiếu đặng. Nhập với thinh là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu với tiếng không thấy mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là nhĩ, cũng gọi là nhĩ xứ, cũng gọi là nhĩ giới, cũng gọi là nhĩ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi là nhà không. Những sắc này gọi là nhĩ xứ.

- Sắc mà gọi là nhĩ xứ đó ra sao? Nhĩ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành đồ không thấy mà đối chiếu đặng, do nương nhĩ nào thì nhĩ xúc mở mối tiếng đã sanh ra, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương nhĩ nào mà thọ sanh từ nhĩ xúc... tưởng... tư... nhĩ thức mở mối tiếng đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương nhĩ nào, nhĩ xúc mà có thinh làm cảnh đã sanh ra, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương nhĩ nào thì thọ sanh từ nhĩ xúc... tưởng... tư... nhĩ thức có thinh làm cảnh đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là nhĩ, cũng gọi là nhĩ xứ, cũng gọi là nhĩ giới, cũng gọi là nhĩ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi bờ bên này, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là nhĩ xứ.

518.

- Sắc mà gọi là tỷ xứ đó ra sao? Tỷ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, (thế vậy chúng sanh) đã ngửi, đang ngửi, sẽ ngửi, đáng ngửi, nhập với khí là thứ không thấy mà đối chiếu đặng đối với tỷ nào thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là tỷ, cũng gọi là tỷ xứ, cũng gọi là tỷ giới, cũng gọi là tỷ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là tỷ xứ.

- Sắc mà gọi là tỷ xứ đó ra sao? Tỷ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, nhập với khí là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi tỷ nào thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là tỷ, cũng gọi là tỷ xứ, cũng gọi là tỷ giới, cũng gọi là tỷ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là ranh giới, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là tỷ xứ.

- Sắc mà gọi là tỷ xứ đó ra sao?

Tỷ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng, nhập với khí là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu với khí mà không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là tỷ, cũng gọi là tỷ xứ, cũng gọi là tỷ giới, cũng gọi là tỷ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là ranh giới, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là tỷ xứ.

- Sắc mà gọi là tỷ xứ đó ra sao? Tỷ nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng, bởi nương tỷ nào thì tỷ xúc mở mối khí đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương tỷ nào thì thọ sanh từ tỷ xúc... tưởng... tư... tỷ thức mở mối khí đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương tỷ nào thì tỷ xúc có khí làm cảnh, hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương tỷ nào thì thọ sanh từ tỷ xúc... tưởng... tư... tỷ thức mà có khí làm cảnh đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là tỷ, cũng gọi là tỷ xứ, cũng gọi là tỷ giới, cũng gọi là tỷ quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là tỷ xứ.

519.

- Sắc mà gọi là thiệt xứ đó ra sao? Thiệt nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, (thế vậy) chúng sanh đã nếm, hoặc đang nếm, hoặc sẽ nếm, hoặc đáng nếm bằng vị mà không thấy nhưng đối chiếu đặng với thiệt nào là đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, theo đây cũng gọi là thiệt, cũng gọi là thiệt xứ, cũng gọi là thiệt giới, cũng gọi là thiệt quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là ranh giới, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là thiệt xứ.

- Sắc mà gọi là thiệt xứ đó ra sao? Thiệt nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, nhập với vị là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi thiệt nào là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thiệt, cũng gọi là thiệt xứ, cũng gọi là thiệt giới, cũng gọi là thiệt quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là thiệt xứ.

- Sắc mà gọi là thiệt xứ đó ra sao? Thiệt nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung, liên hệ trong thân thể, thành đồ không thấy mà đối chiếu đặng, nhập với vị là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu, chỗ vị mà thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thiệt, cũng gọi là thiệt xứ, cũng gọi là thiệt giới, cũng gọi là thiệt quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là thiệt xứ.

- Sắc mà gọi là thiệt xứ đó ra sao? Thiệt nào là thần kinh nương sắc tứ đại minh liên hệ trong thân thể, thành đồ không thấy mà đối chiếu đặng, do nương lưỡi nào thì thiệt xúc mở mối vị đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh... do nương thiệt nào mà thọ sanh từ thiệt xúc... tưởng... tư... thiệt thức mở mối vị đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do nương thiệt nào mà thiệt xúc có vị làm cảnh đã phát sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh; do nương thiệt nào mà thọ phát sanh từ thiệt xúc... tưởng... tư... Thiệt thức mà có vị làm cảnh hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là thiệt, cũng gọi là thiệt xứ, cũng gọi là thiệt giới, cũng gọi là thiệt quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi thử ngạn, cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là thiệt xứ.

520.

- Sắc mà gọi là thân xứ đó ra sao? Thân nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung liên hệ trong thân thể, thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Thế vậy (chúng sanh) hoặc đã đụng chạm, hoặc đang đụng chạm, hoặc sẽ đụng chạm, hoặc đáng đụng chạm với xúc là đồ không thấy nhưng đối chiếu nơi thân nào là đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thân, cũng gọi là thân xứ, cũng gọi là thân giới, cũng gọi là thân quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi là thử ngạn, cũng gọi là nhà không. Những sắc này gọi là thân xứ.

- Sắc mà gọi là thân xứ đó ra sao? Thân nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung liên hệ trong thân thể, là thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Nhập với xúc là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã xúc chạm, hoặc đang xúc chạm, hoặc sẽ xúc chạm, hoặc đáng xúc chạm nơi thân nào đối với thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thân, cũng gọi là thân xứ, cũng gọi là thân giới, cũng gọi là thân quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi là thử ngạn, cũng gọi là nhà không. Những sắc này gọi là thân xứ.

- Sắc mà gọi là thân xứ đó ra sao? Thân nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung liên hệ trong thân thể, là thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Nhập với thân là thứ không thấy mà đối chiếu đặng, hoặc đã ép bức, hoặc đang ép bức, hoặc sẽ ép bức, hoặc đáng ép bức nơi xúc là thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thân, cũng gọi là thân xứ, cũng gọi là thân giới, cũng gọi là thân quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi là thử ngạn, cũng gọi là nhà không. Những sắc này gọi là thân xứ.

- Sắc mà gọi là thân xứ đó ra sao? Thân nào là thần kinh nương sắc tứ đại sung liên hệ trong thân thể là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, do nương với thân nào thì thân xúc mở mối cho xúc hoặc đã phát sanh, hoặc đang phát sanh, hoặc sẽ phát sanh, hoặc đáng phát sanh; do nhập với thân nào mà thọ phát sanh từ thân xúc… tưởng… tư… thân thức mở mối cho xúc hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh…; do nương thân nào mà thân xúc có sự mở mối cho cảnh xúc hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh; do nương thân nào mà thọ sanh từ thân xúc… tưởng… tư… thân thức có cảnh xúc hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là thân, cũng gọi là thân xứ, cũng gọi là thân giới, cũng gọi là thân quyền, cũng gọi là đời, cũng gọi là môn, cũng gọi là biển, cũng gọi là bạch tịnh, cũng gọi là giới hạn, cũng gọi là vật, cũng gọi là nhà trống. Những sắc này gọi là thân xứ.

521.

- Sắc mà gọi là sắc xứ đó ra sao? Sắc nào là màu nương sắc tứ đại sung là thứ thấy đặng và đối chiếu được tức là màu xanh lam, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, màu đen, màu chân chim phụng, màu vàng đen, màu xanh, màu lá cây, màu trái xoài, dài, vắn, viễn, to, tròn, vuông, lục giác, bát giác, thập lục giác, hõm, lồi, bóng, nắng, ánh sáng, tối, mây, sương, khói, bụi, ánh trăng, trời chói, ánh sao, sao rọi, kiếng rọi, ngọc chiếu, ốc chiếu, ánh trân châu, ánh ngọc mắt mèo, ánh vàng, ánh bạc, hoặc dù cho sắc nào khác thành màu nương sắc tứ đại sung là thứ thấy đặng và đối chiếu đặng. Như thế, chúng sanh đã thấy, hoặc đang thấy, hoặc sẽ thấy, hoặc đáng thấy bằng sắc nào mà thứ thấy đặng và đối chiếu đặng với nhãn là thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là sắc, cũng gọi là sắc xứ, cũng gọi là sắc giới. Những sắc này đều gọi là sắc xứ.

- Sắc mà gọi là sắc xứ đó ra sao? Sắc nào là màu nương sắc tứ đại sung là thứ thấy đặng và đối chiếu được tức là màu xanh lam, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, màu đen, màu chân chim phụng, màu vàng đen, màu xanh, màu lá cây, màu trái xoài, dài, vắn, viễn, to, tròn, dầy, vuông, lục giác, bát giác, thập lục giác, hõm, lồi, bóng, nắng, ánh sáng, tối, mây, sương, khói, bụi, ánh trăng, trời chói, ánh sao, sao rọi, kiếng rọi, ngọc chiếu, ốc chiếu, ánh trân châu, ánh ngọc mắt mèo, ánh vàng, ánh bạc; hoặc dù sắc nào khác thành màu nương sắc tứ đại sung là thứ thấy đặng và vẫn đối chiếu đặng. Nhãn là thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Thế vậy, chúng sanh hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi sắc nào mà thứ thấy đặng và đối chiếu đặng. Đây gọi là sắc, cũng gọi là sắc xứ, cũng gọi là sắc giới. Những sắc này đều gọi là sắc xứ.

- Sắc mà gọi là sắc xứ đó ra sao? Sắc nào là màu nương sắc tứ đại sung là thứ thấy đặng và đối chiếu được, tức là màu xanh lam, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, màu đen, màu chân chim phụng, màu vàng đen, màu xanh, màu lá cây, màu trái xoài, dài, vắn, viễn, to, tròn, dầy, vuông, lục giác, bát giác, thập lục giác, hõm, lồi, bóng, nắng, ánh sáng, tối, mây, sương, khói, bụi, ánh trăng, trời chói, ánh sao, sao rọi, kiếng rọi, ngọc chiếu, ốc chiếu, ánh trân châu, ánh ngọc mắt mèo, ánh vàng, ánh bạc; hoặc dù sắc nào khác thành màu nương sắc tứ đại sung là thứ thấy đặng và vẫn đối chiếu được, do sắc nào mở mối mà nhãn xúc nương nhãn hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do sắc nào mở mối, thời thọ sanh từ nhãn xúc... tưởng... tư... nhãn thức nương nhãn hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; nhãn xúc có sắc nào làm cảnh mà nương nhãn hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh... thọ mà sanh từ nhãn xúc... tưởng... tư... nhãn thức mà có sắc nào nương nhãn hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là sắc, cũng gọi là sắc xứ, cũng gọi là sắc giới. Những sắc này đều gọi là sắc xứ.

522.

- Sắc mà gọi là thinh xứ đó ra sao? Thinh nào nương sắc tứ đại sung thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng, tức là tiếng trống, tiếng vỗ bồng, tiếng ốc thổi, tiếng phi nam nữ, tiếng ca hát, tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng vỗ tay, tiếng thú kêu, tiếng âm dương chạm, tiếng nước, tiếng nhân loại, tiếng phi nhân. Hay là những tiếng nào khác nương sắc tứ đại sung thành thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng… Thế vậy, chúng sanh hoặc đã nghe, hoặc đang nghe, hoặc sẽ nghe, hoặc đáng nghe những tiếng nào là thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng, đối với nhĩ thành thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thinh, cũng gọi là thinh xứ, cũng gọi là thinh giới. Những sắc này đều gọi là thinh xứ.

- Sắc mà gọi là thinh xứ đó ra sao? Thinh nào nương sắc tứ đại sung thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng, tức là tiếng trống, tiếng vỗ bồng, tiếng ốc thổi, tiếng phi nam nữ, tiếng ca hát, tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng vỗ tay, tiếng thú kêu, tiếng âm dương chạm, tiếng nước, tiếng nhân loại, tiếng phi nhân. Hay là những tiếng nào khác nương sắc tứ đại sung thành thứ thấy không đặng và vẫn đối chiếu đặng… nhập với nhĩ là thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi sắc nào là thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thinh, cũng gọi là thinh xứ, cũng gọi là thinh giới. Những sắc này đều gọi là thinh xứ.

- Sắc mà gọi là thinh xứ đó ra sao? Thinh nào nương sắc tứ đại thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng, tức là tiếng trống, tiếng vỗ bồng, tiếng ốc thổi, tiếng phi nam nữ, tiếng ca hát, tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng vỗ tay, tiếng thú kêu, tiếng âm dương chạm, tiếng nước, tiếng nhân loại, tiếng phi nhân. Hay là những tiếng nào khác nương sắc tứ đại sung thành thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng… nhập với thinh là thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi nhĩ mà thành thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là thinh, cũng gọi là thinh xứ, cũng gọi là thinh nhập (thinh xứ). Những sắc này đều gọi là thinh xứ.

- Sắc mà gọi là thinh xứ đó ra sao? Thinh nào nương sắc tứ đại thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng, tức là tiếng trống, tiếng vỗ bồng, tiếng ốc thổi, tiếng phi nam nữ, tiếng ca hát, tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng vỗ tay, tiếng thú kêu, tiếng âm dương chạm, tiếng nước, tiếng nhân loại, tiếng phi nhân. Hay là những tiếng nào khác nương sắc tứ đại thành thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng… do thinh nào mở mối nhĩ xúc nương nhĩ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do thinh nào mở mối mà thọ sanh từ nhĩ xúc... tưởng... tư... nhĩ thức nương nhĩ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; nhĩ xúc mà có thinh nào làm cảnh nương nhĩ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; thọ nương từ nhĩ xúc... tưởng... tư... nhĩ thức có tiếng nào làm cảnh nương nhĩ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là thinh, cũng gọi là thinh xứ, cũng gọi là thinh giới. Những sắc này đều gọi là thinh xứ.

523.

- Sắc mà gọi là khí xứ đó ra sao? Khí nào mà nương sắc tứ đại sung thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, tức là hơi rễ cây, hơi lõi cây, hơi vỏ cây, hơi lá cây, hơi bông cây, hơi trái cây, hơi thúi, hơi sình, hơi thơm, hơi hôi. Hoặc là những hơi nào khác mà nương sắc tứ đại sung thành đồ không thấy đặng nhưng vẫn đối chiếu. Thế vậy chúng sanh hoặc đã ngửi, hoặc đang ngửi, hoặc sẽ ngửi, hoặc đáng ngửi, hơi nào mà thành thứ không thấy đặng nhưng đối chiếu đặng, đối với tỷ mà thuộc về thứ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là khí, hoặc gọi khí xứ, hoặc gọi khí giới. Những sắc này đều gọi là khí xứ.

- Sắc mà gọi là khí xứ đó ra sao? Khí nào mà nương sắc đại sung thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, tức là hơi rễ cây, hơi lõi cây, hơi vỏ cây, hơi lá cây, hơi bông cây, hơi trái cây, hơi thúi, hơi sình, hơi thơm, hơi hôi. Hoặc là những hơi nào khác mà nương sắc tứ đại thành đồ không thấy đặng nhưng vẫn đối chiếu đặng. Nhập với tỷ là thứ đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu do khí nào là thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là khí, cũng gọi khí xứ, cũng gọi khí giới. Những sắc này đều gọi là khí xứ.

- Sắc mà gọi là khí xứ đó ra sao? Khí nào mà nương sắc tứ đại sung thành đồ không thấy mà đối chiếu đặng, tức là hơi rễ cây, hơi lõi cây, hơi vỏ cây, hơi lá cây, hơi bông cây, hơi trái cây, hơi thúi, hơi sình, hơi thơm, hơi hôi hoặc những hơi nào khác mà nương sắc tứ đại sung thành đồ không thấy đặng nhưng vẫn đối chiếu đặng. Nhập với khí là đồ không thấy mà đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi tỷ mà thành thứ không thấy đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là khí, cũng gọi khí xứ, cũng gọi khí giới. Những sắc này đều gọi là khí xứ.

- Sắc mà gọi là khí xứ đó ra sao? Khí nào mà nương sắc tứ đại sung thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, tức là hơi rễ cây, hơi lõi cây, hơi vỏ cây, hơi lá cây, hơi bông cây, hơi trái cây, hơi thúi, hơi sình, hơi thơm, hơi hôi, hoặc những hơi nào khác mà nương sắc tứ đại thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, do khí nào mở mối cho tỷ xúc nương tỷ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; do khí nào mở mối thì thọ sanh từ tỷ xúc... tưởng... tư... tỷ thức nương tỷ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; tỷ xúc có khí nào làm cảnh nương tỷ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh...; thọ mà sanh từ tỷ xúc... tưởng... tư... tỷ thức có khí làm cảnh nương tỷ hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là khí, cũng gọi khí xứ, cũng gọi khí giới. Những sắc này đều gọi là khí xứ.

524.

- Sắc mà gọi là vị xứ đó ra sao? Vị nào nương sắc tứ đại sung thành đồ không thấy mà đối chiếu đặng, tức là vị rễ cây, vị thân cây, vị vỏ cây, vị lá cây, vị bông cây, vị trái cây, vị chua, vị ngọt, vị đắng, vị cay, vị mặn, vị bùi, vị nhẫn, vị chát, vị ngon, vị dở, hoặc vị nào khác nương sắc tứ đại sung mà thành thứ đồ không thấy mà đối chiếu đặng. Nhập với thiệt thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi vị nào mà thành đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là vị, cũng gọi vị xứ, cũng gọi vị giới. Những sắc này đều gọi là vị xứ.

- Sắc mà gọi là vị xứ đó ra sao? Vị nào nương sắc tứ đại sung thành thứ đồ không thấy được nhưng đối chiếu đặng như là vị rễ cây, vị thân cây, vị vỏ cây, vị lá cây, vị bông cây, vị trái cây, vị chua, vị ngọt, vị đắng, vị cay, vị mặn, vị bùi, vị nhẫn, vị chát, vị ngon, vị dở, hoặc vị nào khác nương sắc tứ đại sung mà thành thứ đồ không thấy mà vẫn đối chiếu… nhập với thiệt là đồ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi vị nào mà thành thứ đồ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là vị, cũng gọi vị xứ, cũng gọi vị giới. Những sắc này đều gọi là vị xứ.

- Sắc mà gọi là vị xứ đó ra sao? Vị nào nương sắc tứ đại sung thành thứ đồ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng như là vị rễ cây, vị thân cây, vị vỏ cây, vị lá cây, vị bông cây, vị trái cây, vị chua, vị ngọt, vị đắng, vị cay, vị mặn, vị bùi, vị nhẫn, vị chát, vị ngon, vị dở, hoặc vị nào khác nương sắc tứ đại sung mà thành thứ đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng. Nhập với vị nào mà thành món thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu nơi thiệt mà thành thứ đồ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là vị, cũng gọi vị xứ, cũng gọi vị giới. Những sắc này đều gọi là vị xứ.

- Sắc mà gọi là vị xứ đó ra sao? Vị nào nương sắc tứ đại sung thành đồ thấy không được mà đối chiếu đặng như là vị rễ cây, vị thân cây, vị vỏ cây, vị lá cây, vị bông cây, vị trái cây, vị chua, vị ngọt, vị đắng, vị cay, vị mặn, vị bùi, vị nhẩn, vị chát, vị ngon, vị dở. Hoặc vị nào khác nương sắc tứ đại sung mà thành thứ đồ không thấy nhưng đối chiếu đặng, do sắc nào mở mối thiệt xúc nương lưỡi đã sanh ra, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh…; do vị nào mở mối thì thọ sanh từ thiệt xúc… tưởng… tư… thiệt thức nương thiệt đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh…; thiệt xúc có vị nào làm cảnh nương thiệt nào hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh…; thọ mà sanh từ thiệt xúc… tưởng… tư… thiệt thức có vị nào làm cảnh nương thiệt hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh. Đây cũng gọi là vị, cũng gọi là vị xứ. Những sắc này đều gọi là vị xứ.

 525.

Sắc mà gọi là nữ quyền đó ra sao? Những cách nào thuộc về phần nữ như là nữ căn, nữ tướng, thân phần nữ, thái độ nữ, nết hạnh nữ, hành động theo cách người nữ. Như thế đây gọi là sắc nữ quyền.

526.

Sắc mà gọi là nam quyền đó ra sao? Những cách nào thuộc về phần nam như là nam căn, nam tướng, thân phần nam, thái độ nam, nết hạnh nam, hành động theo cách người nam. Như thế đây gọi là sắc nam quyền.

527.

Sắc mà gọi là mạng quyền đó ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, sự dinh dưỡng của sắc pháp, gọi sắc mạng quyền tức là cách sống còn của sắc pháp. Những sắc này đều gọi là mạng quyền.

528.

Sắc mà gọi là thân biểu tri đó ra sao? Sự lay động, cách lay động, hành vi lay động, thái độ lay động, sự trình bày cho biết ý nghĩa, hành động trình bày cho biết ý nghĩa nơi thân của người mà có tâm thiện, tâm bất thiện hay là tâm vô ký sai khiến tới lui, ngó liếc qua lại, co ngay như thế nào. Những sắc này đều gọi là thân biểu tri.

529.

Sắc mà gọi là khẩu biểu tri đó ra sao? Cách nói, cách phát ra lời, cách nói chuyện, cách tường thuật, cách tuyên bố, cách quảng cáo, ngôn ngữ, lời phân biệt của những người có tâm thiện, tâm bất thiện hay là tâm vô ký. Đây gọi là ngữ ngôn, sự trình bày cho biết ý nghĩa, cách trình bày cho biết ý nghĩa, trạng thái trình bày cho biết ý nghĩa bằng ngôn ngữ như thế nào. Những sắc này đều gọi là khẩu biểu tri.

530.

Sắc mà gọi là hư không giới (giao giới) đó ra sao? Trống không tục gọi là hư không, cách luống không, sự luống không, kẽ hở, lỗ trống, tục gọi là không ngơ, thường gọi là rỗng không, thuộc về y sinh nương sắc tứ đại sung, nhưng đụng chạm không đặng. Những sắc này đều gọi là hư không giới.

531.

Sắc mà gọi là sắc khinh (nhẹ) đó ra sao? Sự nhẹ, sự không nặng, sự lẹ làng, sự không chần chờ chậm chạp dù nơi sắc nào. Như thế đây gọi là sắc khinh.

532.

 Sắc mà gọi là sắc nhu (mềm) đó ra sao? Trạng thái mềm dịu, sự mềm dịu, không sần sượng, không cứng cỏi dù nơi sắc nào, đều gọi là sắc nhu.

533.

 Sắc mà gọi là sắc thích dụng (thích sự) đó ra sao? Cách vừa với việc làm, sự vừa theo việc làm, trạng thái vừa với việc làm dù nơi sắc nào đều gọi là sắc thích dụng.

 534.

Sắc mà gọi là sắc sanh đó ra sao? Những cách nào chất chứa xứ, sự sanh ra của sắc đó, sắc như thế đây gọi là sắc sanh (upacaya).

535.

Sắc mà gọi là sắc thừa kế đó ra sao? Sự sanh ra của sắc nào thành liên tiếp (thừa kế) của sắc pháp như thế đó, những sắc này gọi là sắc thừa kế (santati).

536.

Sắc mà gọi là sắc lão đó ra sao? Sự già, sự cũ, rụng răng, tóc bạc, bớt thọ, da dùn, cách chín mùi của sắc quyền có trong những sắc nào như thế, đây gọi là sắc lão (jaratā).

537.

Sắc mà gọi là sắc vô thường đó ra sao? Sự mất, cách hoại, sự rã, sự tan, sự không bền, sự vô thường của sắc nào, những sắc như thế gọi là sắc vô thường (aniccata).

538.

Sắc mà gọi là đoàn thực đó ra sao? Cơm, bánh tươi, bánh khô, cá, thịt, sữa tươi, sữa chế, bơ trong, bơ cục, mỡ, dầu, mật, nước mía, hay là những sắc nào khác vẫn có mà thành đồ để vào miệng nhai nuốt cho no bụng của mỗi chúng sanh và nhân loại hay những chất chi bổ dưỡng cho tất cả chúng sanh. Những sắc này đều gọi là đoàn thực.

Những sắc này gọi là sắc y sinh (upādā rūpa).

Dứt phần y sinh

Dứt tập sắc pháp sơ phần 8.000 chữ

~~~~~~~~~~

539.

Sắc bất y sinh đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới.

540.

- Sắc mà gọi là xúc xứ đó ra sao? Địa giới, hỏa giới, phong giới, sự cứng, sự mềm, thứ to, thứ nhuyễn, sự nặng, sự nhẹ, đụng vào thích sướng hoặc không thích. Nhập với thân là thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu với thứ xúc nào mà thành thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là xúc, cũng gọi xúc xứ, cũng gọi xúc giới. Những sắc này đều gọi là xúc xứ.

- Sắc mà gọi là xúc xứ đó ra sao? Địa giới, hỏa giới, phong giới, thứ cứng, thứ mềm, thứ to, thứ nhuyễn, cách nặng, cách nhẹ, đụng vào thích sướng hoặc không thích sướng. Nhập với thân là thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu với thứ xúc mà thành thứ thấy không đặng nhưng đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là xúc, cũng gọi xúc xứ, cũng gọi xúc giới. Những sắc này đều gọi là xúc xứ.

- Sắc mà gọi là xúc xứ đó ra sao? Địa giới, hỏa giới, phong giới, thứ cứng, thứ mềm, thứ to, thứ nhuyễn, cách nặng, cách nhẹ, đụng vào thích sướng hoặc không thích sướng. Xúc nào mà thành thứ thấy không đặng mà đối chiếu đặng, hoặc đã đối chiếu, hoặc đang đối chiếu, hoặc sẽ đối chiếu, hoặc đáng đối chiếu với thân mà thành thứ không thấy mà đối chiếu đặng. Đây cũng gọi là xúc, cũng gọi xúc xứ, cũng gọi xúc giới. Những sắc này đều gọi là xúc xứ.

- Sắc mà gọi là xúc xứ đó ra sao? Địa giới, hỏa giới, phong giới, các thứ cứng, mềm, to, nhuyễn, nặng, nhẹ, đụng vào thích sướng hoặc không thích sướng do xúc nào mở mối thân xúc nương thân hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh… do xúc nào mở mối cho thọ sanh từ thân xúc… tưởng… tư… thân thức nương với thân hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh… thân xúc có xúc nào làm cảnh nương thân hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh… thọ sanh từ thân xúc… tưởng… tư… thân thức có xúc nào làm cảnh nương thân hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, hoặc đáng sanh…. Đây gọi là xúc, hoặc xúc xứ, hoặc xúc giới. Những sắc này đều gọi là xúc xứ.

541.

Sắc mà gọi là thủy giới đó ra sao? Sự ướt át, thứ vẫn tươm, sự dẻo dai, cơ quan dính, sắc nào như thế, những sắc ấy đều gọi là thủy giới.

Những sắc vừa kể trên đều gọi là sắc bất y sinh.

~~~~~~~~~~

NHỊ ĐỀ XIỂN MINH

542.

- Sắc thành thủ đó ra sao? Như là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền; hoặc những sắc nào khác chung có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh (upacaya), sắc thừa kế (santati), và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc thành thủ.

- Sắc thành phi thủ đó ra sao? Như là thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão (jaratā), sắc vô thường. Hay là những sắc nào khác đồng có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế, đoàn thực mà không do nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc phi thủ.

543.

- Sắc thủ và cảnh thủ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, hay những sắc nào khác đồng có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế (santati) và đoàn thực mà do nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc thủ và cảnh thủ.

- Sắc phi thủ cảnh thủ đó ra sao? Như là thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão (jaratā), sắc vô thường (aniccatā); hoặc những sắc nào khác chung có như là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế, đoàn thực mà không do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ.

544.

- Sắc hữu kiến đó ra sao? Tức là sắc xứ, những sắc này gọi là sắc hữu kiến.

- Sắc bất kiến đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này đều gọi là sắc bất kiến.

545.

- Sắc hữu đối chiếu đó ra sao? Như là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ. Những sắc này đều gọi là sắc hữu đối chiếu (sappaṭigha).

- Sắc vô đối chiếu đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc vô đối chiếu (appaṭigha).

546.

- Sắc quyền đó ra sao? Như là nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Những sắc này đều gọi là sắc quyền.

- Sắc phi quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này đều gọi là sắc phi quyền.

547.

- Sắc đại sung đó ra sao? Tức là xúc xứ và thủy chất. Những sắc này đều gọi là sắc tứ đại sung.

- Sắc phi đại sung đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này đều gọi là sắc phi đại sung.

548.

- Sắc biểu tri đó ra sao? Như là thân biểu tri và khẩu biểu tri. Những sắc này gọi là sắc biểu tri.

- Sắc phi biểu tri đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi biểu tri.

549.

- Sắc có tâm làm sở sanh đó ra sao? Như là thân biểu tri và khẩu biểu tri, hoặc những sắc nào khác đồng có sanh từ nơi tâm có tâm làm nhân, có tâm làm sở sanh tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc sanh, sắc thừa kế (santati) và đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc có tâm làm sở sanh.

- Sắc phi tâm làm sở sanh đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, sắc lão, sắc vô thường, hoặc những sắc nào khác đồng có mà không do tâm tạo, không do tâm làm nhân, không do tâm làm sở sanh tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi tâm làm sở sanh.

550.

- Sắc đồng sanh tồn với tâm đó ra sao? Như là thân biểu tri và khẩu biểu tri. Những sắc này gọi là sắc đồng sanh tồn với tâm.

- Sắc không đồng sanh tồn với tâm đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc không đồng sanh tồn với tâm.

551.

- Sắc tùng tâm thông lưu đó ra sao? Như là thân biểu tri và khẩu biểu tri. Những sắc này gọi là sắc tùng tâm thông lưu.

- Sắc phi tùng tâm thông lưu đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi tùng tâm thông lưu.

552.

- Sắc nội đó ra sao? Như là nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội.

- Sắc ngoại đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại.

553.

- Sắc thô đó ra sao? Như là nhãn xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc thô.

- Sắc tế đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc tế.

554.

- Sắc viễn đó ra sao? Như là nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc viễn.

- Sắc cận đó ra sao? Như là nhãn xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc cận.

555.

- Sắc vật mà nhãn xúc nương đó ra sao? Tức là nhãn xứ. Những sắc này gọi là sắc vật mà nhãn xúc nương.

- Sắc chẳng phải sắc vật mà nhãn xúc nương đó ra sao? Như là nhĩ xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc chẳng phải sắc vật mà nhãn xúc nương.

556.

- Sắc thành vật mà thọ nươngnhãn xúc nươngtưởng nươngtư nươngnhãn thức nương đó ra sao? Tức là nhãn xứ. Những sắc này gọi là sắc vật mà nhãn thức nương.

- Sắc chẳng phải vật mà nhãn thức nương đó ra sao?

Như là nhĩ xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc chẳng phải sắc vật mà nhãn thức nương.

557.

- Sắc thành vật mà nhĩ xúc nươngtỷ xúc nươngthiệt xúc nươngthân xúc nương… đó ra sao? Tức là thân xứ. Những sắc này gọi là sắc thành vật mà thân xúc nương.

- Sắc chẳng phải sắc vật mà thân xúc nương đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc chẳng phải sắc thành vật mà thân xúc nương.

558.

- Sắc thành vật mà thọ sanh từ thân xúc nươngtưởng nươngtư nươngthân thức nương… đó ra sao? Thân xứ. Sắc này gọi là sắc thành vật mà thân thức nương.

- Sắc chẳng phải sắc vật mà thân thức nương đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc chẳng phải sắc vật mà thân thức nương.

559.

- Sắc thành cảnh của nhãn xúc đó ra sao? Tức là sắc xứ. Sắc này gọi là sắc thành cảnh của nhãn xúc.

- Sắc phi cảnh của nhãn xúc đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi cảnh của nhãn xúc.

560.

- Sắc thành cảnh của thọ sanh từ nhãn xúccủa tưởngcủa tưcủa nhãn thức đó ra sao? Sắc là sắc xứ. Những sắc này gọi là sắc thành cảnh của nhãn thức.

- Sắc phi cảnh của nhãn thức đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi cảnh của nhãn thức.

561.

- Sắc thành cảnh của nhĩ xúccủa tỷ xúccủa thiệt xúccủa thân xúc đó ra sao? Như là xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc thành cảnh của thân xúc.

- Sắc phi cảnh của thân xúc đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi cảnh của thân xúc.

562.

- Sắc thành cảnh của thọ sanh từ thân xúc… của tưởng… của tưcủa thân thức đó ra sao? Tức là xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc thành cảnh của thân thức.

- Sắc phi cảnh của thân thức đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi cảnh của thân thức.

563.

- Sắc thành nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung… đây cũng gọi là nhãn… hoặc gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc thành nhãn xứ.

- Sắc phi nhãn xứ đó ra sao? Như là nhĩ xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi nhãn xứ.

564.

- Sắc thành nhĩ xứthành tỷ xứthành thiệt xứthành thân xứ đó ra sao? Thân nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung… đây cũng gọi là thân… cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc thành thân xứ.

- Sắc phi thân xứ đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi thân xứ.

565.

- Sắc thành sắc xứ đó ra sao? Sắc nào là màu nương sắc tứ đại sung… đây cũng gọi là sắc, cũng gọi sắc xứ, cũng gọi sắc giới. Những sắc này gọi là sắc thành sắc xứ.

- Sắc phi sắc xứ đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc xứ.

566.

- Sắc thành thinh xứthành khí xứthành vị xứthành xúc xứ đó ra sao? Địa giới… đây cũng gọi là xúc, cũng gọi xúc xứ, cũng gọi xúc giới. Những sắc này gọi là sắc thành xúc xứ.

- Sắc phi xúc xứ đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi xúc xứ.

567.

- Sắc thành nhãn giới đó ra sao? Tức là nhãn xứ. Những sắc này gọi là sắc thành nhãn giới.

- Sắc phi nhãn giới đó ra sao? Như là nhĩ xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi nhãn giới.

568.

- Sắc thành nhĩ giớithành tỷ giớithành thiệt giớithành thân giới đó ra sao? Tức là thân xứ. Những sắc này gọi là sắc thành thân giới.

- Sắc phi thân giới đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi thân giới.

569.

- Sắc thành sắc giới đó ra sao? Tức là sắc xứ. Những sắc này gọi là sắc thành sắc giới.

- Sắc phi sắc giới đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc giới.

570.

- Sắc thành thinh giớithành khí giớithành vị giớithành xúc giới đó ra sao? Tức là xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc thành xúc giới.

- Sắc phi xúc giới đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi xúc giới.

571.

- Sắc thành nhãn quyền đó ra sao? Nhãn nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung, đây hoặc gọi là nhãn… hoặc gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc nhãn quyền.

- Sắc phi nhãn quyền đó ra sao? Như là nhĩ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi nhãn quyền.

572.

- Sắc thành nhĩ quyềnthành tỷ quyềnthành thiệt quyềnthành thân quyền đó ra sao? Thân nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung. Đây cũng gọi là thân… hoặc gọi nhà không... Những sắc này gọi là sắc thành thân quyền.

- Sắc phi thân quyền đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi thân quyền.

573.

- Sắc thành nữ quyền đó ra sao? Những sắc nào thuộc về phần nữ như là nữ căn, nữ tướng, chơn tướng nữ, thái độ nữ, nết na nữ, thân phần nữ, những nguyên nhân hiện bày như thế, những sắc này gọi là sắc thành nữ quyền.

- Sắc phi nữ quyền đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi nữ quyền.

574.

- Sắc thành nam quyền đó ra sao? Những cách nào thuộc về phần nam như là nam căn, nam tướng, chơn tướng nam, thái độ nam, nết hạnh nam, thân phần nam, phát hiện như thế do nguyên nhân nào. Những sắc này đây gọi là sắc thành nam quyền.

- Sắc phi nam quyền đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi nam quyền.

575.

- Sắc mạng quyền đó ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, sự dinh dưỡng của sắc pháp, gọi sắc mạng quyền tức là cách sống còn của sắc pháp. Những sắc này gọi là sắc mạng quyền.

- Sắc phi mạng quyền đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi mạng quyền.

576.

- Sắc thành thân biểu tri đó ra sao? Sự lay động, cách lay động, hành vi lay động, thái độ lay động, sự trình bày cho biết ý nghĩa, cách trình bày cho biết ý nghĩa, hành động trình bày cho biết ý nghĩa nơi thân của người mà có tâm thiện, tâm bất thiện hay là tâm vô ký sai khiến tới lui, ngó liếc qua lại, co ngay như thế nào. Những sắc này đều gọi là sắc thân biểu tri.

- Sắc phi thân biểu tri đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi thân biểu tri.

577.

- Sắc thành khẩu biểu tri đó ra sao? Cách nói, cách phát ra lời, cách nói chuyện, cách tường thuật, cách tuyên bố, cách quảng cáo, ngôn ngữ, lời phân biệt của những người có tâm thiện hoặc tâm bất thiện hay là tâm vô ký. Đây gọi là ngữ ngôn, sự trình bày cho biết ý nghĩa, cách trình bày cho biết ý nghĩa, trạng thái trình bày cho biết ý nghĩa bằng ngữ ngôn như thế nào, những sắc này đều gọi là sắc khẩu biểu tri.

- Sắc phi khẩu biểu tri đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi khẩu biểu tri.

578.

- Sắc thành hư không giới đó ra sao? Trống không tục gọi là hư không, cách luống không, sự trống không, kẽ hở, lỗ trống, tục định là không ngơ, thường gọi là rỗng không thuộc về y sinh nương sắc tứ đại sung, nhưng đụng chạm không đặng. Những sắc này đều gọi là sắc hư không giới.

- Sắc phi hư không giới đó ra sao? Như là nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi hư không giới.

579.

- Sắc thành thủy giới đó ra sao? Sự ướt át, cách ướt át, sự dẻo, chơn tướng dẻo, cơ quan dính của sắc. Những sắc này gọi là sắc thành thủy giới.

- Sắc phi thủy giới đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi thủy giới.

580.

- Sắc nhẹ đó ra sao? Sự nhẹ, cách mau, không chậm chạp, không nặng nề của sắc nào như thế, đây gọi là sắc nhẹ.

- Sắc phi sắc nhẹ đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc nhẹ.

581.

- Sắc thành sắc mềm đó ra sao? Sự mềm mại, cách mềm mại, không cứng, không sượng của sắc nào, đây gọi là sắc thành sắc mềm.

- Sắc phi sắc mềm đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc mềm.

582.

- Sắc thành sắc thích dụng đó ra sao? Cách vừa với việc làm, sự vừa theo việc làm, trạng thái vừa với việc làm dù nơi sắc nào đều gọi là sắc thành sắc thích dụng.

- Sắc phi sắc thích dụng đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc thích dụng.

583.

- Sắc thành sắc sanh đó ra sao? Sự tích tựu của những xứ, sự sanh ra của sắc, dù thế nào những sắc này gọi là sắc sanh (upacaya).

- Sắc phi sắc sanh đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc sanh.

584.

- Sắc thành sắc thừa kế đó ra sao? Sự thừa kế (tiến lên) của sắc, sự tiếp liền của sắc, dù thế nào những sắc này đều gọi là sắc thành sắc thừa kế (santati).

- Sắc phi sắc thừa kế đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc thừa kế.

585.

- Sắc thành sắc lão đó ra sao? Sự già, cách cũ, thay đổi như là tóc bạc, răng lung lay, giảm thọ, sự chín mùi của quyền và của sắc pháp như thế nào những sắc này gọi là sắc lão (jaratā).

- Sắc phi sắc dị (sắc lão) đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc lão.

586.

- Sắc thành sắc vô thường đó ra sao? Sự mất đi, hao đi, hư hoại, không bền, sự không trường tồn của sắc pháp, dù thế nào những sắc này đều gọi là sắc vô thường (aniccata).

- Sắc phi sắc vô thường đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi sắc vô thường.

587.

- Sắc thành đoàn thực đó ra sao? Cơm, bánh tươi, bánh khô, cá, thịt, sữa tươi, sữa chua, bơ lỏng, bơ đặc, mỡ, dầu, mật, nước mía. Hay là những sắc nào khác đồng có thành đồ để trong miệng nhai nuốt no bụng của mỗi chúng sanh tức là những chất bổ nào nuôi sống nhân loại và vạn vật. Những sắc này gọi là sắc thành đoàn thực.

- Sắc phi đoàn thực đó ra sao? Nhãn xứ… sắc vô thường. Những sắc này gọi là sắc phi đoàn thực.              

Nhị yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu đây.

Dứt nhị đề xiển minh

~~~~~~~~~~

TAM ĐỀ XIỂN MINH

588.

- Sắc nội thành y sinh đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành y sinh.

- Sắc ngoại thành y sinh đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành y sinh.

- Sắc ngoại phi y sinh đó ra sao? Xúc xứ… thủy giới. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại phi y sinh.

589.

- Sắc nội thành thủ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành thủ.

- Sắc ngoại thành thủ đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Hay là những sắc nào khác đồng có tức là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành thủ.

- Sắc ngoại thành phi thủ đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc nhẹ, sắc mềm, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường. Hay là những sắc nào khác đồng có tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành phi thủ.

590.

- Sắc nội thành thủ cảnh thủ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành thủ cảnh thủ.

- Sắc ngoại thành thủ cảnh thủ đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, hay là những sắc nào khác đồng có tức là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế, sắc vật thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành thủ cảnh thủ.

- Sắc ngoại phi thủ cảnh thủ đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc nhẹ, sắc mềm, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường. Hay là những sắc nào khác đồng có tức là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi thủ cảnh thủ.

591.

- Sắc nội thành bất kiến đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành bất kiến.

- Sắc ngoại thành bất kiến đó ra sao? Chỉ có sắc xứ. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành bất kiến (Sanidassana).

- Sắc ngoại mà hữu kiến đó ra sao? Thinh xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại mà hữu kiến.

592.

- Sắc nội thành đối chiếu đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành đối chiếu (Sappatigha).

- Sắc ngoại thành đối chiếu đó ra sao? Sắc xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành đối chiếu.

- Sắc ngoại vô đối chiếu đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại vô đối chiếu (Appatigha).

593.

- Sắc nội thành quyền đó ra sao? Nhãn quyền… thân quyền. Những sắc này gọi là sắc nội thành quyền (Indrīya).

- Sắc ngoại thành quyền đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành quyền.

- Sắc ngoại phi quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi quyền.

594.

- Sắc nội phi đại sung đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi đại sung (Mahābhūta).

- Sắc ngoại thành đại sung đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành đại sung.

- Sắc ngoại phi đại sung đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi đại sung.

595.

- Sắc nội phi biểu tri đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi biểu tri.

- Sắc ngoại thành biểu tri đó ra sao? Thân biểu tri và khẩu biểu tri. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành biểu tri (viññatti).

- Sắc ngoại phi biểu tri đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi biểu tri.

596.

- Sắc nội không có tâm làm sở sanh đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội không có tâm làm sở sanh (cittasamuṭṭhāna).

- Sắc ngoại có tâm làm sở sanh đó ra sao? Thân biểu tri, khẩu biểu tri, hay là những sắc nào khác có tâm làm nhân sanh và sở sanh tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sự nhẹ của sắc, sự mềm của sắc, sự thích dụng của sắc, cách sanh của sắc, cách thừa kế của sắc và đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại có tâm làm sở sanh (cittasamuṭṭhāna).

- Sắc ngoại không có tâm làm sở sanh đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, sự già của sắc, cách vô thường của sắc. Hay là sắc nào khác mà không có tâm làm nhân sanh hay sở sanh tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sự nhẹ của sắc, sự mềm của sắc, sự thích dụng của sắc, cách sanh của sắc, sự thừa kế của sắc và đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại không có tâm làm sở sanh.

597.

- Sắc nội không đồng sanh tồn với tâm đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội không đồng sanh tồn với tâm (cittasahabhū).

- Sắc ngoại đồng sanh tồn với tâm đó ra sao? Thân biểu tri và khẩu biểu tri. Những sắc này gọi là sắc ngoại đồng sanh tồn với tâm.

- Sắc ngoại không đồng sanh tồn với tâm đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại không đồng sanh tồn với tâm.

598.

- Sắc nội phi tùng thông lưu với tâm đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi tùng thông lưu với tâm.

- Sắc ngoại tùng thông lưu với tâm đó ra sao? Thân biểu tri và khẩu biểu tri. Những sắc này gọi là sắc ngoại tùng thông lưu với tâm.

- Sắc ngoại không tùng thông lưu với tâm đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại không tùng thông lưu với tâm (cittānuparivatti).

599.

- Sắc nội thô đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thô.

- Sắc ngoại thô đó ra sao? Sắc xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc ngoại thô.

- Sắc ngoại tế đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại tế (sukhama).

600.

- Sắc nội thành cận đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội cận.

- Sắc ngoại mà viễn đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại viễn (bāhira dūre).

- Sắc ngoại cận đó ra sao? Sắc xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc ngoại cận (bāhira santike).

601.

- Sắc ngoại phi vật nương của nhãn xúc đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi vật nương của nhãn xúc.

- Sắc nội thành vật nương của nhãn xúc đó ra sao? Nhãn xứ. Sắc này gọi là sắc nội thành vật nương của nhãn xúc.

- Sắc nội không thành vật nương của nhãn xúc đó ra sao? Như là nhĩ xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội không thành vật nương của nhãn xúc.

602.

- Sắc ngoại không thành vật nương của thọ sanh từ nhãn xúccủa tưởngcủa tưcủa nhãn thức đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại không thành vật nương của nhãn thức.

- Sắc nội thành vật nương của nhãn thức đó ra sao? Nhãn xứ. Sắc này gọi là sắc nội thành vật nương của nhãn thức.

- Sắc nội phi vật nương của nhãn thức đó ra sao? Nhĩ xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi vật nương của nhãn thức.

603.

- Sắc ngoại không thành vật nương của nhĩ xúccủa tỷ xúccủa thiệt xúccủa thân xúc đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại không thành vật nương của thân xúc.

- Sắc nội thành vật nương của thân xúc đó ra sao? Thân xứ. Sắc này gọi là sắc nội thành vật nương của thân xúc.

- Sắc nội phi vật nương của thân xúc đó ra sao? Nhãn xứ… thiệt xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi vật nương của thân xúc.

604.

- Sắc ngoại phi vật nương của thọ sanh từ thân xúccủa tưởngcủa tưcủa thân thức đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi vật nương của thân thức.

- Sắc nội thành vật nương của thân thức đó ra sao? Thân xứ. Sắc này gọi là sắc nội thành vật nương của thân thức.

- Sắc nội không thành vật nương của thân thức đó ra sao? Nhãn xứ… thiệt xứ. Những sắc này gọi là sắc nội không thành vật nương của thân thức.

605.

- Sắc nội phi cảnh của nhãn xúc đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi cảnh của nhãn xúc.

- Sắc ngoại thành cảnh của nhãn xúc đó ra sao? Sắc xứ. Sắc này gọi là sắc ngoại thành cảnh của nhãn xúc.

- Sắc ngoại phi cảnh của nhãn xúc đó ra sao? Thinh xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi cảnh của nhãn xúc.

606.

- Sắc nội phi cảnh của thọ sanh từ nhãn xúccủa tưởngcủa tưcủa nhãn thức đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi cảnh của nhãn thức.

- Sắc ngoại thành cảnh của nhãn thức đó ra sao? Sắc xứ. Sắc này gọi là sắc ngoại thành cảnh của nhãn thức.

- Sắc ngoại phi cảnh của nhãn thức đó ra sao? Thinh xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi cảnh của nhãn thức.

607.

- Sắc nội phi cảnh của nhĩ xúccủa tỷ xúccủa thiệt xúccủa thân xúc đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi cảnh của thân xúc.

- Sắc ngoại thành cảnh của thân xúc đó ra sao? Xúc xứ. Sắc này gọi là sắc ngoại thành cảnh của thân xúc.

- Sắc ngoại phi cảnh của thân xúc đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi cảnh của thân xúc.

608.

- Sắc nội phi cảnh của thọ sanh từ thân xúccủa tưởngcủa tưcủa thân thức đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi cảnh của thân thức.

- Sắc ngoại thành cảnh của thân thức đó ra sao? Xúc xứ. Sắc này gọi là sắc ngoại thành cảnh của thân thức.

- Sắc ngoại phi cảnh của thân thức đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi cảnh của thân thức.

609.

- Sắc ngoại phi nhãn xứ đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi nhãn xứ.

- Sắc nội thành nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào là thanh triệt nương sắc tứ đại sung. Đây gọi là nhãn… hoặc gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc nội thành nhãn xứ.

- Sắc nội phi nhãn xứ đó ra sao? Nhĩ xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi nhãn xứ.

610.

- Sắc ngoại phi nhĩ xứphi tỷ xứphi thiệt xứphi thân xứ đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi thân xứ.

- Sắc nội thành thân xứ đó ra sao? Thân nào là thanh triệt nương sắc tứ đại sung. Đây cũng gọi là thân… hoặc gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc nội thành thân xứ.

- Sắc nội phi thân xứ đó ra sao? Nhãn xứ… thiệt xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi thân xứ.

611.

- Sắc nội phi sắc xứ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc xứ.

- Sắc ngoại thành sắc xứ đó ra sao? Sắc nào là màu nương sắc tứ đại sung… Đây cũng gọi là sắc, cũng gọi sắc xứ, cũng gọi sắc giới. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành sắc xứ.

- Sắc ngoại phi sắc xứ đó ra sao? Thinh xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc xứ.

612.

- Sắc nội phi thinh xứphi khí xứphi vị xứphi xúc xứ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi xúc xứ.

- Sắc ngoại thành xúc xứ đó ra sao? Địa giới… Đây cũng gọi là xúc, cũng gọi xúc xứ, cũng gọi xúc giới. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành xúc xứ.

- Sắc ngoại phi xúc xứ đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi xúc xứ.

613.

- Sắc ngoại phi nhãn giới đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi nhãn giới.

- Sắc nội thành nhãn giới đó ra sao? Nhãn xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành nhãn giới.

- Sắc nội phi nhãn giới đó ra sao? Nhĩ xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi nhãn giới.

614.

- Sắc ngoại phi nhĩ giớiphi tỷ giớiphi thiệt giớiphi thân giới đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi thân giới.

- Sắc nội thành thân giới đó ra sao? Thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội thành thân giới.

- Sắc nội phi thân giới đó ra sao? Nhãn xứ… thiệt xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi thân giới.

615.

- Sắc nội phi sắc giới đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc giới.

- Sắc ngoại thành Sắc giới đó ra sao? Sắc xứ. Sắc này gọi là sắc ngoại thành Sắc giới.

- Sắc ngoại phi sắc giới đó ra sao? Thinh xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc giới.

616.

- Sắc nội phi thinh giớiphi khí giớiphi vị giớiphi xúc giới đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi xúc giới.

- Sắc ngoại thành xúc giới đó ra sao? Xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành xúc giới.

- Sắc ngoại phi xúc giới đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi xúc giới.

617.

- Sắc ngoại phi nhãn quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi nhãn quyền.

- Sắc nội thành nhãn quyền đó ra sao? Nhãn nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung… Đây cũng gọi là nhãn… cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc nội thành nhãn quyền.

- Sắc nội phi nhãn quyền đó ra sao? Nhĩ xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi nhãn quyền.

618.

- Sắc ngoại phi nhĩ quyềnphi tỷ quyềnphi thiệt quyềnphi thân quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi thân quyền.

- Sắc nội thành thân quyền đó ra sao? Thân nào là thanh triệt nương sắc tứ đại sung… Đây cũng gọi là thân… cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là sắc nội thành thân quyền.

- Sắc nội phi thân quyền đó ra sao? Nhãn xứ… thiệt xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi thân quyền.

619.

- Sắc nội phi nữ quyền đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi nữ quyền.

- Sắc ngoại thành nữ quyền đó ra sao? Nguyên nhân nào phát sanh bộ phận nữ, tư cách nữ, thái độ nữ, thân phần nữ, tướng trạng nữ, nữ căn, sắc làm nhân phát hiện như thế. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành nữ quyền.

- Sắc ngoại phi nữ quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi nữ quyền.

620.

- Sắc nội phi nam quyền đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi nam quyền.

- Sắc ngoại thành nam quyền đó ra sao? Nhân nào phát bày bộ phận nam, tư cách nam, thái độ nam, thân phần nam, tướng trạng nam, nam căn, sắc làm nhân phát hiện như thế. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành nam quyền.

- Sắc ngoại phi nam quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi nam quyền.

621.

- Sắc nội phi mạng quyền đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi mạng quyền.

- Sắc ngoại thành mạng quyền đó ra sao? Sự sống còn, đang còn, sự hiện hữu, cách hiện tồn, đang liên tiếp, hành vi đang còn, sự dinh dưỡng của sắc pháp, cũng gọi mạng sống đang bảo tồn cho những sắc nghiệp. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành mạng quyền.

- Sắc ngoại phi mạng quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi mạng quyền.

622.

- Sắc nội phi thân biểu tri đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi thân biểu tri.

- Sắc ngoại thành thân biểu tri đó ra sao? Sự lay động, cách lay động, hành vi lay động, thái độ lay động, sự trình bày cho biết ý nghĩa, cách trình bày cho biết ý nghĩa, hành động trình bày cho biết ý nghĩa nơi thân người mà có tâm thiện, tâm bất thiện hay là tâm vô ký sai khiến tới, lui, ngó, liếc qua lại, co, ngay ra sao. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành thân biểu tri.

- Sắc ngoại phi thân biểu tri đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi thân biểu tri.

623.

- Sắc nội phi khẩu biểu tri đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi khẩu biểu tri.

- Sắc ngoại thành khẩu biểu tri đó ra sao? Cách nói, sự nói, lời nói, cách tường thuật, cách tuyên bố, cách quảng cáo, ngôn ngữ, lời phân biệt của những người có tâm thiện, tâm bất thiện hay là tâm vô ký. Đây cũng gọi là ngôn ngữ, sự trình bày cho biết ý nghĩa, cách trình bày cho biết ý nghĩa, trạng thái trình bày cho biết ý nghĩa bằng ngôn ngữ, dù thế nào những sắc này đều gọi là sắc ngoại thành khẩu biểu tri (vocī viññatti).

- Sắc ngoại phi khẩu biểu tri đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi khẩu biểu tri.

624.

- Sắc nội phi hư không giới đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi hư không giới.

- Sắc nội thành hư không giới đó ra sao? Trống không tục gọi là hư không, cách luống không, sự luống không, kẽ hở, lỗ trống, tục định là không ngơ, thường gọi là rỗng không thuộc về y sinh nương sắc tứ đại sung, nhưng không đụng chạm chi. Những sắc này gọi là sắc nội thành hư không giới (ākasadhātu).

- Sắc ngoại phi hư không giới đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi hư không giới.

625.

- Sắc nội phi thủy giới đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi thủy giới.

- Sắc ngoại thành thủy giới đó ra sao? Sự ướt át, cách ướt át, sự dẻo, cách dẻo, cơ quan vẫn thu hút. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại thành thủy giới.

- Sắc ngoại phi thủy giới đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi thủy giới.

626.

- Sắc nội phi sắc khinh đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc khinh.

- Sắc ngoại thành sắc khinh đó ra sao? Cách nhẹ, sự mau, không chậm chạp, không nặng nề nơi sắc nào như thế, đây gọi là sắc ngoại thành sắc khinh (rūpa lahutā).

- Sắc ngoại phi sắc khinh đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc khinh.

627.

- Sắc nội phi sắc nhu đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc nhu.

- Sắc ngoại thành sắc nhu đó ra sao? Cách mềm, sự mềm, không cứng, không sần sượng dù nơi sắc nào, những sắc như thế này đều gọi là sắc ngoại thành sắc nhu.

- Sắc ngoại phi sắc nhu đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc nhu.

628.

- Sắc nội phi sắc thích dụng đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc thích dụng. 

- Sắc ngoại thành sắc thích dụng đó ra sao? Sắc vừa với công việc làm, sự thích hợp với cách làm, trạng thái thích hợp với việc làm của sắc thế nào, những sắc này đều gọi là sắc ngoại thành sắc thích dụng (rūpakammaññatā).

- Sắc ngoại phi sắc thích dụng đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc thích dụng.

629.

- Sắc nội phi sắc sanh đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc sanh.

- Sắc ngoại thành sắc sanh đó ra sao? Sự tích tụ của những xứ, cách sanh của sắc như thế nào. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại thành sắc sanh (upacaya).

- Sắc ngoại phi sắc sanh đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc sanh.

630.

- Sắc nội phi sắc thừa kế đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc thừa kế.

- Sắc ngoại thành sắc thừa kế đó ra sao? Cách sắc vừa sanh liên tiếp (thừa kế) của sắc như thế nào. Những sắc này gọi là sắc ngoại thành sắc thừa kế (rūpasantati).

- Sắc ngoại phi sắc thừa kế đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc thừa kế.

631.

- Sắc nội phi sắc lão đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc lão.

- Sắc ngoại thành sắc lão đó ra sao? Cách cũ, sự già, răng lay, tóc bạc, giảm thọ, da dùn, sự chín mùi của quyền nơi sắc nào, những sắc này gọi là sắc ngoại thành sắc lão (rūpa jaratā).

- Sắc ngoại phi sắc lão đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc ngoại phi sắc lão.

632.

- Sắc nội phi sắc vô thường đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này gọi là sắc nội phi sắc vô thường (aniccatā).

- Sắc ngoại thành sắc vô thường đó ra sao? Sự hư, cách mất, cách rã, trạng thái biến đổi, thái độ tiêu tan, không còn tồn tại của sắc nào. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại thành sắc vô thường (rūpa aniccatā).

- Sắc ngoại phi sắc vô thường đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại phi sắc vô thường.

633.

- Sắc nội phi đoàn thực đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Những sắc này đều gọi là sắc nội phi đoàn thực.

- Sắc ngoại thành đoàn thực đó ra sao? Cơm, bánh tươi, bánh khô, cá, thịt, sữa tươi, sữa chua, bơ trong, bơ cục, mỡ, dầu, mật ong, nước mía; hay là những sắc nào khác chung có đặng để vào miệng nhai, nuốt cho no bụng mỗi chúng sanh, hoặc từ người dân dã, dù chất bổ như thế nào mà để nuôi mạng sống cho tất cả chúng sanh. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại thành đoàn thực (kabaḷiṅkārāhāra).

- Sắc ngoại phi đoàn thực đó ra sao? Sắc xứ… sắc vô thường. Những sắc này đều gọi là sắc ngoại phi đoàn thực.

 Tam yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt tam đề xiển minh

~~~~~~~~~~

TỨ ĐỀ XIỂN MINH

634.

- Sắc y sinh thành (sắc) thủ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Hay là những sắc nào khác chung có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc y sinh thành (sắc) thủ.

- Sắc y sinh phi sắc thủ đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường. Hay là những sắc nào khác chung có tức là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc y sinh phi sắc thủ.

- Sắc bất y sinh thành sắc thủ đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc bất y sinh thành sắc thủ.

- Sắc bất y sinh phi sắc thủ đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc bất y sinh phi sắc thủ.

635.

- Sắc y sinh thành thủ cảnh thủ đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Hay là những sắc nào khác chung có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc y sinh thành thủ cảnh thủ.

- Sắc y sinh phi thủ mà cảnh thủ đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, hoặc sắc nào khác chung có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc y sinh phi thủ mà cảnh thủ.

- Sắc bất y sinh thành thủ cảnh thủ đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc bất y sinh thành thủ cảnh thủ.

- Sắc bất y sinh phi thủ cảnh thủ đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc bất y sinh phi thủ cảnh thủ.

636.

- Sắc y sinh thành đối chiếu đó ra sao? Nhãn xứ… vị xứ. Những sắc này gọi là sắc y sinh thành đối chiếu (sappaṭigha).

- Sắc y sinh vô đối chiếu đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc y sinh vô đối chiếu.

- Sắc bất y sinh mà đối chiếu đó ra sao? Xúc xứ. Sắc này gọi là sắc bất y sinh mà đối chiếu.

- Sắc bất y sinh vô đối chiếu đó ra sao? Thủy giới. Sắc này gọi là sắc bất y sinh vô đối chiếu.

637.

- Sắc y sinh thô đó ra sao? Nhãn xứ… vị xứ. Những sắc này gọi là sắc y sinh thô.

- Sắc y sinh tế đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc y sinh tế (rūpa upādā sukhuma).

- Sắc bất y sinh thô đó ra sao? Xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc bất y sinh thô.

- Sắc bất y sinh tế đó ra sao? Thủy giới. Sắc này gọi là sắc bất y sinh tế.

638.

- Sắc y sinh viễn đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc y sinh viễn (rūpa upādā dūre).

- Sắc y sinh cận đó ra sao? Nhãn xứ… vị xứ. Những sắc này gọi là sắc y sinh cận (rūpa upādā santike).

- Sắc bất y sinh viễn đó ra sao? Thủy giới. Sắc này gọi là sắc bất y sinh viễn.

- Sắc bất y sinh cận đó ra sao? Xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc bất y sinh cận.

639.

- Sắc thủ hữu kiến đó ra sao? Sắc xứ do nghiệp tạo. Sắc này gọi là sắc thủ hữu kiến (rūpa upādinna sanidassana).

- Sắc thủ bất kiến đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Hay là những sắc nào khác chung có như là khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ bất kiến (rūpa upādinna anidassana).

- Sắc phi thủ hữu kiến đó ra sao? Sắc xứ mà phi nghiệp tạo. Sắc này gọi là sắc phi thủ hữu kiến.

- Sắc phi thủ và bất kiến đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường; hay những sắc nào khác chung có như là khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ và bất kiến.

640.

- Sắc thủ hữu đối chiếu đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ. Hay là những sắc nào khác chung có như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ hữu đối chiếu (rūpa upādinna sappaṭigha).

- Sắc thủ vô đối chiếu đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, hay là những sắc nào khác đồng có như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ vô đối chiếu.

- Sắc phi thủ hữu đối chiếu đó ra sao? Thinh xứ, hay những sắc nào khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ hữu đối chiếu.

- Sắc phi thủ vô đối chiếu đó ra sao? Thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, hay là cũng có những sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ vô đối chiếu.

641.

- Sắc thủ thành đại sung đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới do nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc thủ thành đại sung (rūpa upādinna mahābhūta).

- Sắc thủ phi đại sung đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, cũng có những sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc thủ phi đại sung.

- Sắc phi thủ thành đại sung đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới đều phi nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc phi thủ thành đại sung.

- Sắc phi thủ và phi đại sung đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc phi thủ và phi đại sung.

642.

- Sắc thủ thô đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ thô.

- Sắc thủ tế đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ tế.

- Sắc phi thủ thô đó ra sao? Thinh xứ, cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ mà phi nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc phi thủ thô.

- Sắc phi thủ tế đó ra sao? Thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, hay cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc phi thủ tế.

643.

- Sắc thủ viễn đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ viễn.

- Sắc thủ cận đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, hay cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ do nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc cận (rūpa anupādinna dūre).

- Sắc phi thủ cận đó ra sao? Thinh xứ, hay là những sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cận (rūpa anupādinna santike).

644.

- Sắc thủ cảnh thủ và thấy đặng đó ra sao? Sắc xứ do nghiệp tạo. Sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ và thấy đặng.

- Sắc thủ cảnh thủ mà bất kiến đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, hay là những sắc chi khác tức là khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ mà bất kiến.

- Sắc phi thủ cảnh thủ mà hữu kiến đó ra sao? Sắc xứ mà phi nghiệp tạo. Sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ mà hữu kiến.

- Sắc phi thủ cảnh thủ và bất kiến đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, hay cũng có sắc chi khác như là khí xứ, vị xứ, xúc xứ, hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này đều gọi là sắc phi thủ cảnh thủ và bất kiến.

645.

- Sắc thủ cảnh thủ hữu đối chiếu đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, hay cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ hữu đối chiếu.

- Sắc thủ cảnh thủ vô đối chiếu đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, hay cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ vô đối chiếu.

- Sắc phi thủ cảnh thủ hữu đối chiếu đó ra sao? Thinh xứ, hay cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ hữu đối chiếu.

- Sắc phi thủ cảnh thủ vô đối chiếu đó ra sao? Thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, hay cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ vô đối chiếu.

646.

- Sắc thủ cảnh thủ thành đại sung đó ra sao? Xúc xứ và thủy giới do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ thành đại sung.

- Sắc thủ cảnh thủ phi đại sung đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ phi đại sung.

- Sắc phi thủ cảnh thủ thành đại sung đó ra sao? Xúc xứ và thủy chất mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ thành đại sung.

- Sắc phi thủ cảnh thủ phi đại sung đó ra sao? Thinh xứ, thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, hay cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, hư không giới, sắc sanh, sắc tiến và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ phi đại sung.

647.

- Sắc thủ cảnh thủ thô đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, cũng có sắc chi khác nữa như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ thô.

- Sắc thủ cảnh thủ tế đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ tế.

- Sắc phi thủ cảnh thủ thô đó ra sao? Thinh xứ, cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ thô.

- Sắc phi thủ cảnh thủ tế đó ra sao? Thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ tế.

648.

- Sắc thủ cảnh thủ viễn đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ viễn.

- Sắc thủ cảnh thủ cận đó ra sao? Nhãn xứ… thân xứ, cũng có sắc chi khác như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ do nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc thủ cảnh thủ cận.

- Sắc phi thủ cảnh thủ viễn đó ra sao? Thân biểu tri, khẩu biểu tri, sắc khinh, sắc nhu, sắc thích dụng, sắc lão, sắc vô thường, hay cũng có sắc chi khác như là hư không giới, thủy giới, sắc sanh, sắc thừa kế và đoàn thực mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ viễn.

- Sắc phi thủ cảnh thủ cận đó ra sao? Thinh xứ, cũng có sắc chi khác nữa như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ mà phi nghiệp tạo. Những sắc này gọi là sắc phi thủ cảnh thủ cận.

649.

- Sắc hữu đối chiếu thành quyền đó ra sao? Nhãn quyền… thân quyền. Những sắc này gọi là sắc hữu đối chiếu thành quyền.

- Sắc hữu đối chiếu phi quyền đó ra sao? Sắc xứ... xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc hữu đối chiếu phi quyền.

- Sắc vô đối chiếu thành quyền đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Những sắc này gọi là sắc vô đối chiếu thành quyền.

- Sắc vô đối chiếu và phi quyền đó ra sao? Thân biểu tri… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc vô đối chiếu và phi quyền.

650.

- Sắc hữu đối chiếu thành đại sung đó ra sao? Xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc hữu đối chiếu thành đại sung (mahābhūta).

- Sắc hữu đối chiếu phi đại sung đó ra sao? Nhãn xứ... Vị xứ. Những sắc này gọi là sắc hữu đối chiếu phi đại sung.

- Sắc vô đối chiếu thành đại sung đó ra sao? Thủy chất. Sắc này gọi là sắc vô đối chiếu thành đại sung.

- Sắc vô đối chiếu và phi đại sung đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc vô đối chiếu và phi đại sung.

651.

- Sắc quyền thô đó ra sao? Nhãn quyền… thân quyền. Những sắc này gọi là sắc quyền thô.

- Sắc quyền tế đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền, mạng quyền. Những sắc này gọi là sắc quyền tế.

- Sắc phi quyền thô đó ra sao? Sắc xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc phi quyền thô.

- Sắc phi quyền tế đó ra sao? Thân biểu tri và đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi quyền tế.

652.

- Sắc quyền viễn đó ra sao? Nữ quyền, nam quyền và mạng quyền. Những sắc này gọi là sắc quyền viễn.

- Sắc quyền cận đó ra sao? Nhãn quyền… thân quyền. Những sắc này gọi là sắc quyền cận.

- Sắc phi quyền viễn đó ra sao? Thân biểu tri… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi quyền viễn.

- Sắc phi quyền cận đó ra sao? Sắc xứ… xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc phi quyền cận.

653.

- Sắc đại sung thô đó ra sao? Xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc đại sung thô.

- Sắc đại sung tế đó ra sao? Thủy chất. Sắc này gọi là sắc đại sung tế.

- Sắc phi đại sung thô đó ra sao? Nhãn xứ… vị xứ. Những sắc này gọi là sắc phi đại sung thô.

- Sắc phi đại sung tế đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi đại sung tế.

654.

- Sắc đại sung viễn đó ra sao? Thủy chất. Sắc này gọi là sắc đại sung viễn.

- Sắc đại sung cận đó ra sao? Xúc xứ. Những sắc này gọi là sắc đại sung cận.

- Sắc phi đại sung viễn đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi đại sung viễn.

- Sắc phi đại sung cận đó ra sao? Nhãn xứ… vị xứ. Những sắc này gọi là sắc phi đại sung cận.

655.

Sắc thấy đặng tức là sắc xứ. Sắc nghe đặng tức là thinh xứ. Sắc biết đặng tức là khí xứ, vị xứ và xúc xứ. Sắc biết rõ đặng bằng tâm tức là tất cả sắc pháp.

 

Tứ yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt tứ đề xiển minh

~~~~~~~~~~

NGŨ ĐỀ XIỂN MINH

656.

- Sắc gọi là địa chất đó ra sao? Sắc nào mà cứng sượng, sự cứng, cách cứng, vật cứng, trạng thái cứng, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc thành thủ, hoặc thành phi thủ. Những sắc này gọi là địa chất (pathavīdhātu).

- Sắc gọi là thủy chất đó ra sao? Sắc nào có chơn tướng chảy ra, quến lại, hay sự nhỉ, ướt, tươm của sắc hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc thành thủ, hoặc thành phi thủ, dù thế nào những sắc này đều gọi là thủy chất (āpodhātu).

- Sắc mà gọi là hỏa chất đó ra sao? Sự nóng, cách nóng, sự ấm, cách ấm, sự nực, cách nực, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc thành thủ, hoặc thành phi thủ, dù thế nào những sắc này đều gọi là hỏa chất (tejodhātu).

- Sắc mà gọi là phong chất đó ra sao? Gió nào của sắc lay động qua lại, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc thành thủ, hoặc thành phi thủ, dù thế nào những sắc này đều gọi là phong chất (vāyodhātu).

- Sắc mà gọi là y sinh đó ra sao? Nhãn xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc y sinh (rūpa upādā).

 

Ngũ yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt ngũ đề xiển minh

~~~~~~~~~~

LỤC ĐỀ XIỂN MINH

657.

Sắc mà nhãn thức có thể biết tức là sắc xứ. Sắc mà nhĩ thức có thể biết tức là thinh xứ. Sắc mà tỷ thức có thể biết tức là khí xứ. Sắc mà thiệt thức có thể biết tức là vị xứ. Sắc mà thân thức có thể biết tức là xúc xứ. Sắc mà ý thức có thể biết tức là tất cả sắc pháp.

 

Lục yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt lục đề xiển minh

~~~~~~~~~~

THẤT ĐỀ XIỂN MINH

658.

Sắc mà nhãn thức nên biết tức là sắc xứ. Sắc mà nhĩ thức nên biết tức là thinh xứ. Sắc mà tỷ thức nên biết tức là khí xứ. Sắc mà thiệt thức nên biết tức là vị xứ. Sắc mà thân thức nên biết tức là xúc xứ. Sắc mà ý giới nên biết tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ. Sắc mà ý thức giới nên biết tức là tất cả sắc pháp.

Thất yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt thất đề xiển minh

~~~~~~~~~~

BÁT ĐỀ XIỂN MINH

659.

Sắc mà nhãn thức đáng biết tức là sắc xứ. Sắc mà nhĩ thức đáng biết tức là thinh xứ. Sắc mà tỷ thức đáng biết tức là khí xứ. Sắc mà thiệt thức đáng biết tức là vị xứ. Sắc mà thân thức đáng biết bằng cách đụng sướng tức là xúc thích hợp (tâm), có thể biết bằng cách đụng khổ tức là xúc không thích hợp (tâm). Sắc mà ý giới có thể biết tức là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ. Sắc mà ý thức giới có thể biết tức là tất cả sắc pháp.

Bát yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt bát đề xiển minh

~~~~~~~~~~

CỬU ĐỀ XIỂN MINH

660.

- Sắc mà gọi là nhãn quyền đó ra sao? Sắc nào là thanh triệt nương sắc tứ đại sung… đây hoặc gọi là nhãn… hoặc gọi nhà không. Những sắc này gọi là nhãn quyền.

- Sắc mà gọi là nhĩ quyềngọi là tỷ quyềngọi là thiệt quyềngọi là thân quyềngọi là nữ quyềngọi là nam quyềngọi là mạng quyền đó ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, sự dinh dưỡng, cai quản đặng sống còn của sắc pháp, dù như thế nào những sắc này đều gọi là sắc mạng quyền.

- Sắc phi mạng quyền đó ra sao? Sắc xứ… đoàn thực. Những sắc này gọi là sắc phi mạng quyền.

Cửu yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt cửu đề xiển minh

~~~~~~~~~~

THẬP ĐỀ XIỂN MINH

661.

- Sắc mà gọi là nhãn quyền đó ra sao? Nhãn nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung… đây cũng gọi là nhãn… cũng gọi là nhà không. Những sắc này đều gọi là nhãn quyền.

- Sắc mà gọi là nhĩ quyềngọi là tỷ quyềngọi là thiệt quyềngọi là thân quyềngọi là nữ quyềngọi là nam quyềngọi là mạng quyền đó ra sao? Khi nào có sự sống còn, hiện hành, hiện hữu, hiện tồn, đang liên tiếp, đang còn, hành vi đang còn, sự dinh dưỡng, sự cai quản đặng sống còn của sắc pháp, dù như thế nào những sắc này đều gọi là sắc mạng quyền.

- Sắc phi quyền mà hữu đối chiếu đó ra sao? Sắc xứ… xúc xứ. Những sắc này đều gọi là sắc phi quyền mà hữu đối chiếu.

- Sắc phi quyền mà vô đối chiếu đó ra sao? Thân biểu tri… đoàn thực. Những sắc này đều gọi là sắc phi quyền vô đối chiếu.

Thập yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt thập đề xiển minh

~~~~~~~~~~

THẬP NHỨT ĐỀ XIỂN MINH

662.

- Sắc mà gọi là nhãn xứ đó ra sao? Nhãn nào là sắc thần kinh nương sắc tứ đại sung… Đây cũng gọi là nhãn… cũng gọi nhà không. Những sắc này gọi là nhãn xứ.

- Sắc mà gọi là nhĩ xứgọi là tỷ xứgọi là thiệt xứgọi là thân xứgọi là sắc xứgọi là thinh xứgọi là khí xứgọi là vị xứgọi là xúc xứ đó ra sao? Địa chất… cũng gọi là xúc, cũng gọi là xúc giới. Những sắc này đều gọi là xúc xứ.

- Sắc bất kiến vô đối chiếu mà liên hệ trong pháp xứ đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Những sắc này đều gọi là sắc bất kiến vô đối chiếu mà liên hệ trong pháp xứ.

Thập nhứt yếu hiệp sắc chỉ có bấy nhiêu.

Dứt thập nhứt đề xiển minh

Dứt nhân sắc

Hết đoạn 8.000 chữ phần thứ tám

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Hồi hướng phước đến tất cả chúng sanh, nhứt là các vị Chư thiên có oai lực hộ trì Tạng Diệu pháp đặng thạnh hành.

~~~~~~~~~~

Sài Gòn 06 - 06 - 1975 (27 - 04 - 2518) Việt nam

 


[8] Sắc thần kinh – sau được Hòa thượng Tịnh Sự chỉnh lại thành sắc thanh triệt. 
 

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

 

 

 

Phần D. THIÊN TOÁT YẾU

I. TOÁT YẾU ĐẦU ĐỀ TAM (Tikamātikā)

663.

- Chư pháp thiện là chi? Ba căn thiện là vô tham, vô sân và vô si; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với căn thiện; thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có căn thiện làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp thiện.

- Chư pháp bất thiện là chi? Ba căn bất thiện là tham, sân, si và phiền não đồng nương căn bất thiện; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với căn bất thiện; thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có căn bất thiện làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp bất thiện.

- Chư pháp vô ký là chi? Dị thục quả của pháp bất thiện và thiện nương Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn; pháp thành tố (kiriyā) phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, tất cả sắc pháp luôn vô vi giới (asaṅkhatadhātu).

664.

- Chư pháp tương ưng lạc thọ là chi? Tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với lạc thọ, Tâm dục giới, sắc giới và siêu thế làm sở sanh của lạc thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tương ưng lạc thọ.

- Chư pháp tương ưng khổ thọ là chi? Tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với khổ thọ, tâm Dục giới làm sở sanh cho khổ thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tương ưng khổ thọ.

- Chư pháp tương ưng phi khổ phi lạc thọ là chi? Tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với phi khổ phi lạc thọ, tâm Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế làm sở sanh cho phi khổ phi lạc thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tương ưng phi khổ phi lạc thọ.

665.

- Chư pháp dị thục quả là chi? Dị thục quả của bất thiện và thiện Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế, tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn thuộc về pháp dị thục quả. Những chơn tướng này gọi là chư pháp dị thục quả.

- Chư pháp dị thục nhân là chi? Pháp bất thiện và pháp thiện Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế, tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp dị thục nhân.

- Chư pháp phi dị thục quả phi dị thục nhân là chi? Pháp thành tố phi thiện phi bất thiện và phi nghiệp quả của tất cả sắc pháp luôn vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi dị thục quả phi dị thục nhân.

666.

- Chư pháp thành do thủ và cảnh thủ là chi? Dị thục quả của thiện và bất thiện do phần pháp lậu sanh theo Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn và sắc nghiệp tạo. Những chơn tướng này gọi là chư pháp thành do thủ và cảnh thủ.

- Chư pháp phi thành do thủ mà cảnh thủ là chi? Pháp thiện và bất thiện còn bị lậu biết sanh theo Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn; pháp thành tố (kiriyā) phi thiện, phi bất thiện, phi nghiệp quả và sắc phi nghiệp tạo. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi thành do thủ mà cảnh thủ.

- Chư pháp phi thành do thủ và phi cảnh thủ là chi? Đạo, quả siêu thế và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi thành do thủ và phi cảnh thủ.

667.

- Chư pháp phiền toái và cảnh phiền não là chi? Ba căn bất thiện là tham, sân, si và phiền não đồng y trụ với căn bất thiện; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn mà tương ưng với căn bất thiện; thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có căn bất thiện làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phiền toái và cảnh phiền não.

- Chư pháp phi phiền toái mà cảnh phiền não là chi? Pháp thiện và pháp vô ký còn lệ thuộc lậu trong Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới tức là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi phiền toái mà cảnh phiền não.

- Chư pháp phi phiền toái và phi cảnh phiền não là chi? Đạo, quả siêu thế và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi phiền toái và phi cảnh phiền não.

668.

- Chư pháp hữu tầm hữu tứ là chi? Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với tầm, tứ (trừ tầm, tứ). Tâm dục giới, sắc giới và siêu thế còn nương pháp hữu tầm hữu tứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu tầm hữu tứ.

- Chư pháp vô tầm hữu tứ là chi? Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn trong cõi vô tầm hữu tứ tức là Sắc giới và siêu thế (trừ tứ). Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô tầm hữu tứ.

- Chư pháp vô tầm vô tứ là chi? Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn trong cõi vô tầm vô tứ tức là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế luôn cả sắc pháp và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô tầm vô tứ.

669.

- Chư pháp đồng sanh với (pháp) hỷ là chi? Sở sanh của pháp hỷ là Tâm dục giới, sắc giới và siêu thế, tức là thọ uẩn… thức uẩn tương ưng với pháp hỷ (trừ pháp hỷ). Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với pháp hỷ.

- Chư pháp đồng sanh với lạc thọ là chi? Tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với lạc thọ, tâm Dục giới, Sắc giới và siêu thế làm sở sanh của lạc thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với lạc thọ.

- Chư pháp đồng sanh với xả thọ là chi? Tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn tương ưng với xả thọ, tâm Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế làm sở sanh cho xả thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với xả thọ.

670.

- Chư pháp sơ đạo tuyệt trừ là chi? Tam triền tức là thân kiến (triền), hoài nghi (triền) và giới cấm thủ (triền).

671.

 Trong tam triền đó mà thân kiến triền là chi? Phàm phu trong đời này kẻ thiếu học không đặng gặp bậc Thánh, không thông pháp của bậc Thánh, không tập rèn theo pháp của bậc Thánh, không gặp trí thức, chẳng thông pháp của trí thức, chẳng tập rèn theo pháp của trí thức như:

- Nhận thấy sắc uẩn là ta, nhận thấy ta có sắc uẩn, nhận thấy sắc uẩn ở trong ta, nhận thấy ta có trong sắc uẩn.

- Nhận thấy thọ uẩn là ta, nhận thấy ta có thọ uẩn, nhận thấy thọ uẩn ở trong ta, nhận thấy ta có trong thọ uẩn.

- Nhận thấy tưởng uẩn là ta, nhận thấy ta có tưởng uẩn, nhận thấy tưởng uẩn ở trong ta, nhận thấy ta có trong tưởng uẩn.

- Nhận thấy hành uẩn là ta, nhận thấy ta có hành uẩn, nhận thấy hành uẩn ở trong ta, nhận thấy ta có trong hành uẩn.

- Nhận thấy thức uẩn là ta, nhận thấy ta có thức uẩn, nhận thấy thức uẩn ở trong ta, nhận thấy ta có trong thức uẩn.

Nhận thấy thức uẩn là ta tức là thiên kiến, hoang vu kiến, khuyết phạp kiến, cừu địch kiến, biến hoá kiến, triền kiến, sự tự chấp, sự chấp trước, sự cố chấp, sự chấp sai, trạng thái sai, tà đạo, đường lối xấu, giáo phái phát nguyên điêu tàn và cách chấp theo khinh thị. Những chơn tướng này gọi là thân kiến triền có trong khi đó.

672.

Hoài nghi (triền) trong khi có ra sao? Hoài nghi Phật, Pháp, Tăng; hoài nghi điều học, hoài nghi quá khứ, hoài nghi vị lai, hoài nghi quá khứ và vị lai, hoài nghi pháp y tương sinh (paṭiccamuppāda) là pháp y tương sinh có phải do duyên trợ tạo mới sanh ra chăng? Cách lừng chừng, động tác lừng chừng, sự lừng chừng, sự xét thấy lạ lùng khác biệt, sự quyết đoán cảnh không đặng, sự nhận thấy thành hai khía cạnh, sự nhận thấy như đường rẽ hai, sự không thể quyết một, sự tính lớ thớ, suy xét lừng chừng, sự không thể trọn tính, sự sần sượng của tâm, sự tràn lan của tánh. Những chơn tướng như thế gọi là hoài nghi (triền).

673.

Giới cấm thủ (triền) trong khi có ra sao? Chúng ngoại giáo Sa-môn, Bà-la-môn nhận thấy sự trong sạch do giới, do tu hành, do thực hành trì giới mà có sự nhận thấy bằng cách thiên kiến như là:

- Nhận thấy sắc uẩn là ta, nhận thấy ta có sắc uẩn, nhận thấy sắc uẩn ở trong ta, nhận thấy ta trong sắc uẩn.

- Nhận thấy thọ uẩn là ta, nhận thấy ta có thọ uẩn, nhận thấy thọ uẩn ở trong ta, nhận thấy ta trong thọ uẩn.

- Nhận thấy tưởng uẩn là ta, nhận thấy ta có tưởng uẩn, nhận thấy tưởng uẩn ở trong ta, nhận thấy ta trong tưởng uẩn.

- Nhận thấy hành uẩn là ta, nhận thấy ta có hành uẩn, nhận thấy hành uẩn ở trong ta, nhận thấy ta trong hành uẩn.

- Nhận thấy thức uẩn là ta, nhận thấy ta có thức uẩn, nhận thấy thức uẩn ở trong ta, nhận thấy ta trong thức uẩn.

Những chơn tướng này gọi là giới cấm thủ (triền).

674.

- Chư pháp sơ đạo tuyệt trừ trong khi có ra sao? Tam triền này và phiền não đồng nương với tam triền đó tức là thọ uẩn… thức uẩn tương ưng với tam triền đó, luôn cả thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà có tam triền này làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp sơ đạo tuyệt trừ.

  - Chư pháp ba đạo cao tuyệt trừ trong khi có ra sao? Tham, sân, si ngoài ra và phiền não đồng nương với tham, sân, si đó tức là thọ uẩn… thức uẩn tương ưng với tham, sân, si luôn cả thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà có tham, sân, si làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp ba đạo cao tuyệt trừ.

- Chư pháp phi sơ đạo và phi ba đạo cao tuyệt trừ trong khi có ra sao? Pháp thiện và pháp vô ký trong Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế tức là thọ uẩn… thức uẩn, luôn cả sắc pháp và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi sơ đạo và phi ba đạo cao tuyệt trừ.

675.

- Chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ trong khi có ra sao? Tam triền tức là thân kiến (triền), hoài nghi (triền) và giới cấm thủ (triền).

Cả tam triền đó mà thân kiến (triền) trong khi có ra sao?… đây gọi là thân kiến (triền).

Hoài nghi (triền) trong khi có ra sao?… đây gọi là hoài nghi (triền).

Giới cấm thủ (triền) trong khi có ra sao?… đây gọi là giới cấm thủ (triền).

Cả tam triền và phiền não đồng nương tam triền đó, thọ uẩn… thức uẩn tương ưng với tam triền luôn cả thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà có tam triền làm sở sanh. Những chơn tướng đó gọi là chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ.

Tam triền tức là thân kiến (triền), hoài nghi (triền), giới cấm thủ (triền). Những chơn tướng này gọi là chư pháp sơ đạo tuyệt trừ.

Tham, sân và si đồng nương với tam triền đó. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ.

Phiền não đồng nương với tham, sân, si ấy tức là thọ uẩn… thức uẩn tương ưng với tham, sân, si đó luôn cả thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà có tham, sân, si làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ.

- Chư pháp hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ ra sao? Tham, sân, si ngoài ra. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ. phiền não đồng nương với tham, sân, si và thọ uẩn… thức uẩn tương ưng với tham, sân, si luôn cả thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà có tham, sân, si làm sở sanh. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ.

- Chư pháp phi hữu nhân sơ đạo và ba đạo cao tuyệt trừ ra sao? Trừ ra pháp tuyệt trừ, còn pháp thiện, bất thiện và vô ký ngoài ra nương Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới tức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn luôn tất cả sắc pháp và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi hữu nhân sơ đạo và ba đạo cao tuyệt trừ.

676.

- Chư pháp nhân sanh tử trong khi có ra sao? Pháp bất thiện và pháp thiện còn nương pháp lậu trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới tức là thọ uẩn… thức uẩn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp nhân sanh tử.

- Chư pháp nhân đến níp-bàn trong khi có ra sao? Bốn đạo siêu thế. Những chơn tướng này gọi là chư pháp nhân đến níp-bàn.

- Chư pháp phi nhân sanh tử và phi nhân đến níp-bàn trong khi có ra sao? Dị Thục quả của bất thiện và thiện nơi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và siêu thế tức là thọ uẩn… thức uẩn, pháp thành tố (kiriyā) phi thiện, phi bất thiện và phi nghiệp quả, luôn cả sắc pháp và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi nhân sanh tử và phi nhân đến níp-bàn.

677.

- Chư pháp hữu học trong khi có ra sao? Bốn đạo và ba quả siêu thế tầm thường. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu học (sekkhā dhammā).

- Chư pháp vô học trong khi có ra sao? Vô học quả cao tột tức là quả A-la-hán. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô học (asekkhā dhammā).

- Chư pháp phi hữu học và phi vô học trong khi có ra sao? Trừ ra pháp hữu học, pháp vô học, còn pháp thiện, pháp bất thiện và pháp vô ký ngoài ra trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới tức là thọ uẩn… thức uẩn, luôn tất cả sắc pháp và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi hữu học và phi vô học.

678.

- Chư pháp hy thiểu trong khi có ra sao? Tất cả pháp trong Dục giới như là thiện, bất thiện và vô ký, tức là sắc uẩn… thức uẩn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hy thiểu (parittā dhammā).

- Chư pháp đáo đại trong khi có ra sao? Pháp thiện và vô ký trong Sắc giới, Vô sắc giới tức là thọ uẩn… thức uẩn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp đáo đại.

- Chư pháp vô lượng trong khi có ra sao? Đạo, quả siêu thế và vô vi giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô lượng (appamāṇā dhammā).

679.

- Chư pháp biết cảnh hy thiểu trong khi có ra sao? Những pháp tức là tâm và sở hữu nào sanh ra khai đoan cho pháp hy thiểu. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh hy thiểu (parittā dhammā).