PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

THERAVĀDA

 

TẠNG VÔ TỶ PHÁP

(ABHIDHAMMAPIṬAKA)

 ---

 

BỘ THỨ NĂM

 

 

BỘ NGỮ TÔNG

(kathāvatthu)

 

CẢO BẢN

 

 

 

Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Saṅtakicco

Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

Năm 1976

 

 

 

 

~~~~~~~~~~

 

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

2012

 ---

LỜI GIỚI THIỆU

 

Bộ Kathāvatthu (Ngữ Tông) là Bộ thứ 5 trong Abhidhammapiṭaka (Tạng Vô Tỷ Pháp), đã được Đức Phật thuyết trên cung trời Tāvatiṃsa (Đạo lợi) vào Hạ thứ 7 sau khi thành Phật. Bộ Kathāvatthu, Đức Phật thuyết suốt 13 ngày (từ ngày 22 tháng 7 đến ngày mùng 4 tháng 8 năm Kỷ Mão), đặng 7.100 pháp uẩn, có 70.000.000 vị Chư thiên chứng quả Thánh. Nội dung bộ Kathāvatthu đã được Đức Phật thuyết để phá các Tà kiến, dị kiến hiểu lệch lạc trong Phật Giáo.

Đức Phật với Nhất thiết chủng trí của mình thấy được tất cả kiến chấp đó, nên Ngài đã thuyết đầy đủ trong bộ Kathāvatthu nầy để bác bỏ, đả phá các Tà kiến, dị kiến sẽ xảy ra trong Phật Giáo sau này. Cho dù hiện tại hay vị lai về sau, bất cứ ai trong Phật Giáo có sự hiểu sai về Pháp giới, có chấp kiến sai lạc về Phật Pháp cũng không nằm ngoài Bộ này. Giống như Kinh Phạm Võng mà Phật Ngài đã thuyết, cho dù quá khứ, hiện tại hay vị lai về sau, bao nhiêu kiến chấp, bao nhiêu chủ thuyết cũng không nằm ngoài Kinh Phạm Võng.

Sau khi Đức Phật viên tịch, khoảng 100 năm sau, chư Tăng chấp sai về Giới Luật. Hơn 200 năm sau, thời vua Asoka (A Dục), chư Tăng chấp sai về Pháp Phật, nên Ngài Moggallaputta Tissa phải đứng ra chỉnh đốn lại tri kiến Phật Pháp, bằng cách sử dụng lý luận trong Bộ Kathāvatthu này để bác bỏ, đả phá các kiến chấp đó. Và để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa bác bỏ, đả phá đó, Ngài trước tác 500 câu nhập chung 500 câu của Đức Phật để giải thích cho tường tận. Chính vì lý do này mà một số học giả hiểu lầm cho rằng Bộ Kathāvatthu là do Ngài Moggallaputta Tissa sáng tác. HT. Tịnh Sự nói rằng: Cho dù 1.000 đi nữa, cũng không thể tính thêm 1 pháp uẩn pháp môn gì cả.

Trước đây, chúng tôi học hỏi về Bộ Kathāvatthu với Ngài HT. Tịnh Sự, chúng tôi thắc mắc về cách bác bỏ nữa chừng trong bộ này, Ngài cho biết cách trả lời của Bậc Trí là không bao giờ dồn đối phương đến chân tường, 2 bên đối đáp qua lại thì tự biết mình sai hay đúng là đủ, không cần phải thừa nhận là sai.

Lý luận trong bộ này rất cao siêu, ai nắm được lý pháp siêu lý bộ Song Đối thì có thể hiểu được cách trả lời, cách bác bỏ, cách thừa nhận … được sử dụng trong bộ này.

Bộ Kathāvatthu này được Ngài HT. Tịnh Sự dày công soạn dịch, nay được các đệ tử tôn trọng trí tuệ Ngài, nên ấn tống lại nguyên bản dịch của Hòa Thượng, để học giả, học viên có thể hiểu được sâu xa bản dịch của Ngài, nhất là hiểu đúng ý Phật dạy trong Bộ Kathāvatthu này.

Tôi xin trân trọng giới thiệu với các học giả và học viên môn Thắng Pháp.

 

Tỳ Khưu Pháp Chất

-     Ủy viên Hội Đồng Trị Sự GHPGVN

-     Phó Ban Nghi Lễ Trung Ương

-     Trụ Trì Chùa Nguyên Thủy Q.2 – Sài Gòn.

 ----

 

LỜI TỰA

BAN ẤN TỐNG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

 

Hòa thượng Tịnh Sự là vị Cao tăng thạc đức của Phật Giáo Nguyên thủy. Thông thạo chữ Pālī, Thái và chữ Nho. Từng du học ở Thái Lan hơn 10 năm để nghiên cứu văn học Luận tạng Pālī - Abhidhamma, ngày nay một số vị Cao tăng và đệ tử của ngài vẫn còn in đậm dấu ấn một thời vàng son của bậc thầy trên đất Thái. Nhờ sự nghiên cứu Abhidhamma của ngài, nên khi về Việt Nam ngài nổ lực không ngừng phiên dịch và giảng dạy Abhidhamma nhiều khóa cho thế hệ Tăng sĩ trẻ Phật giáo. Chính vì vậy, ngày nay ở Việt Nam có không ít những Chư tăng và Phật tử thông thạo Abhidhamma và hiện tại bộ Tạng này đã và đang được giảng dạy ở Học viện Phật Giáo Việt Nam và lớp Cao Đẳng Phật Giáo tại thành phố Hồ Chí Minh.

Trước năm 1975, Ngài được Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam mời làm trưởng ban phiên dịch. Điểm đáng mừng, gần 20 năm ngài phiên dịch trọn vẹn luận tạng Pālī, gồm 7 bộ, hơn 10 tập, mỗi tập dày khoảng 500 trang. Dịch xong quyển nào ngài cho quay Roneo gởi Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam để lưu trữ; đồng thời ngài cũng dày công biên soạn một số kinh sách quan trọng trong lãnh vực luận tạng để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và học tập Abhidhamma tại Việt Nam.

Tiếp theo dòng chảy khai sơn phá thạch của Đại Trưởng lão Tịnh Sự, sau năm 1975, Thượng tọa Giác Chánh, Thượng tọa Bửu Chánh, Thượng tọa Giác Giới, Thượng tọa Pháp Chất, Thượng tọa Tịnh Thân, Thượng tọa Chánh Minh biên soạn, mở nhiều lớp Abhidhamma trong Chùa hoặc tại Tư gia để đào tạo kiến thức phật học cho Tăng, Tu nữ và Phật tử gieo duyên với Luận tạng. Về phía Cư sĩ, chúng ta cũng không quên sự nghiệp hoằng pháp Abhidhamma của Cô Bảy Vĩnh Phúc, Cô Quỳnh Hương v.v… .

Gần đây khoảng 5 năm qua, lớp Abhidhamma được tổ chức tại Tổ đình Bửu Quang do Cư sĩ Đức Tài (nay là Tỳ Khưu Giác Tuệ) phụ trách giảng dạy. Tỳ Khưu Giác Tuệ là đệ tử thuần thành của Cố Đại Trưởng lão Tịnh Sự, được Ngài dạy và truyền trao môn Abhidhamma rất chu đáo. Trong thời gian qua, Tỳ khưu Giác Tuệ đã đào tạo và tốt nghiệp gần 200 học viên Abhidhamma cấp Tiểu học, Trung học và Cao học. Để làm phong phú Abhidhamma, Thư viện Phật Giáo Nguyên Thủy xin phép Nhà Xuất bản Tôn giáo ấn hành 4 quyển Tự học Vi Diệu Pháp, Tâm Sở, Vi Diệu Pháp - Tâm lý và Triết học Phật giáo, Chú giải Bộ Pháp Tụ, Chú giải Bộ Phân Tích, Chú giải Thuyết Luận Sự - Kathāvatthu v.v...  .

Điểm đáng chú ý, những học viên lớp Abhidhamma do Tỳ khưu Giác Tuệ giảng dạy từ cấp Trung học trở lên đều nghiên cứu sâu vào những quyển Chánh tạng Abhidhamma của Cố Đại Trưởng lão Hòa thượng Tịnh Sự. Chính vì thế, 7 bộ Vi Diệu Pháp do chính Hòa thượng dịch còn là cảo bản, in bằng hình thức quay Roneo được các học viên học một cách nghiêm túc; đồng thời Tỳ khưu Giác Tuệ chỉ đạo đánh vi tính, sửa lỗi chính tả để phổ biến trong lớp Abhidhamma để học viên học và làm tài liệu nghiên cứu chính thức.

Nhận thấy bảy bộ Abhidhamma cảo bản (bản đầu tiên chưa chỉnh sửa bằng bất cứ hình thức nào) của Cố Đại Trưởng lão Tịnh Sự phiên dịch quá hay và đáp ứng nhu cầu cho học viên hiện nay, nên Tăng Ni và Phật tử học viên đề nghị chúng tôi thành lập Ban Ấn Tống để in những quyển sách quý giá trên đáp ứng nhu cầu thực tế của học viên; đồng thời muốn bảo tồn tinh hoa, trí tuệ và giá trị tinh thần của Đại Trưởng lão Tịnh Sự đối với tạng Abhidhamma bằng tiếng Việt.

Trước nhất, Ban Ấn Tống sẽ xuất bản và giới thiệu đến quý độc giả quyển Kathāvatthu - NGỮ TÔNG, quyển này là bộ thứ năm trong bảy bộ. Sở dĩ xuất bản quyển này trước vì hai lý do, một là trước đây Ban Tu thư Chùa Nam Tông do cố Hòa thượng Siêu Việt chủ trương, cụ thể thực hiện là Thượng tọa Giác Chánh và Thượng tọa Giác Giới tu chỉnh, biên tập và cho xuất bản sáu bộ, duy nhất bộ Ngữ Tông này chưa thực hiện. Hai là, thời gian qua bộ Kathavatthu bản chú giải do hai dịch giả xuất bản đó là Tâm An – Minh Tuệ với tựa sách là NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT, Nguyễn Văn Sáu bản dịch với tựa sách CHÚ GIẢI THUYẾT LUẬN SỰ. Xin thưa hai quyển trên đều là chú giải của hai dịch giả phương tây. Kathavatthu - Ngữ Tông chánh tạng chưa từng xuất bản ở Việt Nam, nên độc giả đọc hai bản chú giải trên và sẽ có một số ngộ nhận quyển Kathavatthu là thời kỳ văn học luận tạng bộ phái.

Như vậy, theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, bảy bộ luận tạng Pālī do đức Phật thuyết giảng trên cung trời Đạo lợi với tác ý trả hiếu cho mẹ. Trong Tam tạng Pālī, bốn mươi lăm năm hoằng pháp đều ghi nhận hạ thứ bảy, đức Phật nhập hạ ở Cung trời Đạo lợi và toàn bộ những gì Đức Phật giảng bộ Abhidhamma được tôn giả Xá Lợi Phất Sariputta học lại khi Đức Phật trở về thế gian ở địa danh Sankhassa thời nay. Địa danh này ngày nay vẫn thu hút giới Phật giáo đến hành hương, cụ thể là Miến Điện và Thái Lan. Do đó, những ai nói Abhidhamma không phải đức phật giảng ở cõi trời thì không đúng với truyền thống phật giáo Nguyên thủy Theravāda.

Lại nữa, có một số người ngộ nhận bộ thứ năm Kathāvatthu - NGỮ TÔNG bằng bản chú giải 500 học thuyết của Tôn giả Moggalitissa hình thành vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch trong thời điểm kết tập tam tạng Pālī lần 3 do vua Asoka bảo trợ. Vì trong bộ này, chúng ta thấy tác giả trình bày những quan điểm của nhiều bộ phái. Ví dụ: Vấn đề Níp bàn. Phái Mahasanghika quan điểm như thế này, Savastivada quan điểm như thế này, Theravāda quan điểm như thế này v.v… độc giả ngộ nhận thời Phật làm sao có những bộ phái như thế này.

Tuy nhiên, Kathāvatthu - Ngữ Tông bằng chánh tạng (chính Phật thuyết), chúng ta không thấy xuất hiện các bộ phái trong bất cứ trường hợp nào. Chỉ thấy xuất hiện Tự ngôn (Sakavādī) và Phản ngữ (Paravādī). Đặc điểm chính của Kathāvatthu - Ngữ Tông là phá Tà kiến. Phật nhìn xa trông rộng thấy đời sau chúng sanh lắm Tà kiến nên ngài tự ngôn bằng nhất thiết chủng trí đưa ra 500 loại hình Tà kiến cơ bản, cho đến thời Phật diệt độ gần 300 năm, Tôn giả Moggalitissa dựa trên 500 câu Chánh tạng và đưa ra 500 loại hình Tà kiến đương đại. Tương tự bên kinh tạng, bài kinh Phạm Võng, đức Phật trình bày và giới thiệu các loại Tà kiến cơ bản, đến tận bây giờ chúng ta thấy con người vì si mê phát sanh Tà kiến gì đi nữa cũng không ngoài những Tà kiến trong bài kinh Phạm Võng.

Thực tế, Kathāvatthu - NGỮ TÔNG, chánh tạng có 23 phẩm, sách dày 405 trang, khổ giấy A4 do Hòa thượng Tịnh Sự phiên dịch từ bản Thái Ngữ trước năm 1975 dưới hình thức cảo bản, quay roneo, chưa từng công bố chính thức. Ban Ấn Tống Phật giáo Nguyên thủy lần đầu tiên đánh máy, chỉnh sữa lỗi chính tả, hoàn toàn trung thành với bản dịch của Hòa thượng, xin xuất bản để giới thiệu đến quý độc giả gần xa bản dịch quý giá này.

Rất mong sự góp ý của Quý độc giả, để kỳ tái bản được hoàn chỉnh hơn.

Chúng tôi chân thành tri ân Thượng Tọa Pháp Chất đã nhiệt tâm ủng hộ và trợ giúp phần đối chiếu bản đánh máy với cảo bản. Thầy Ngộ Đạo đã hổ trợ phần Pāḷi.

Xin tán dương công đức của Chư Tôn Đức Tăng, Quí Cô Tu Nữ và Phật Tử đã đóng góp tịnh tài để xuất bản quyển sách này. Xin cám ơn Học viên Abhidhamma của Tỳ khưu Giác Tuệ đã đánh vi tính bản thảo này và vận động tịnh tài xuất bản tập sách trên.

Nguyện cầu Tam bảo gia hộ đến quý vị thân tâm an lạc, hanh thông mọi việc.

TM. BAN ẤN TỐNG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

Tỳ Khưu Siêu Minh

Gs. Cao Đẳng và Học viện Phật Giáo Việt Nam

 

 ----

 LỜI CẢM TƯỞNG

 

“Chân lý đôi khi có thể bị che mờ

Nhưng không bao giờ bị tắt”

Quả thật vậy, Thầy chúng tôi - Ngài Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự, là bậc thầy đã hy sinh công sức, trí tuệ cho việc dịch thuật Tạng Vô Tỷ Pháp - Abhidhammapiṭaka, đến nay chưa in được nguyên bản (cảo bản). Vì vậy, để tiếp bước công việc lợi sanh của Thầy Tổ, chúng tôi xin được góp sức cùng nhiều vị khác để xuất bản bộ Tạng Abhidhamma theo chính bản gốc mà Ngài dịch.

“Tùy năng thế thượng mong danh lợi,

Tiện thị nhân gian nhất hóa công”.

Nghĩa là trên đời ai quên được danh, lợi thì là một hóa công ở trần gian. Thầy chúng tôi, Ngài Tịnh Sự, là người không màng danh lợi. Suốt đời tận tụy cho Phật Giáo, nhất là tận tụy trong việc dạy học và dịch thuật tạng Vô Tỷ Pháp.

Vì ân đức cao dày đó, chúng tôi xin noi gương sáng Bậc thầy khả kính.

“Thầy đi Pháp ở nguồn ân,

Con về nối lại kính dâng lên Thầy”.

Tỳ Khưu Giác Tuệ (Đức Tài)

Giảng Sư Abhidhamma tại Tổ Đình Bửu Quang.
----------------

BỘ NGỮ TÔNG
(Kathāvatthu)

 
CUNG KỈNH ĐẾN ĐỨC THẾ TÔN, ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI

 

----

 

ĐẠI PHẨM THỨ NHẤT

---

PHẦN NHÂN NGỮ (PUGGALAKATHĀ)

1.              

*     Tự ngôn (Sakavādī): Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ (Paravādī): Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chân thể siêu lý nào mà Ngài nhận thấy đó, thời thuộc là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội nhấn mạnh cho rằng nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó mới nói chân thể siêu lý nào mà Ngài nhận đó thì chân thể siêu lý ấy là người, thời tường thuật rằng chân thể siêu lý thật là người. Cũng không nên nói chân thể siêu lý nào mà Ngài nhận thấy đó, chân thể siêu lý ấy là người, vì thế vậy sai! Cũng không nên nói chân thể siêu lý mà Ngài nhận thấy đó là người, thời quyết không nói nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà có thể nói thật người nhận thấy được chân thể siêu lý; cũng không nên nói chân thể siêu lý nào mà ngài nhận thấy đó, chân thể siêu lý ấy là người, thế vậy sai.

Dứt phần ngữ thuận (Anuloṃapañcaka)

2.              

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Chân thể siêu lý nào mà Ngài không nhận đó, chân thể siêu lý ấy là người phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội cách nghịch hành (Paṭikamma), nếu mà Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó mới nói chân thể siêu lý nào mà Ngài không nhận thấy đó, chân thể siêu lý ấy là người ư? Có thể nói thật là người không nhận thấy chân thể siêu lý, cũng không nên nói chân thể siêu lý nào mà Ngài không nhận biết đó, chân thể siêu lý ấy là người vì thế vậy sai. Cũng chớ nên nói chân thể siêu lý nào mà Ngài không nhận thấy đó, chân thể siêu lý ấy là người, thời quyết không nên nói không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý; mà có thể nói thật là người không nhận thấy chân thể siêu lý. Cũng không nên nói chân thể siêu lý nào mà Ngài không nhận thấy đó, chân thể siêu lý ấy là người vì thế vậy sai!

Dứt tứ phần nghịch hành (Paṭikammacatukka)      

3.              

Phản ngữ: Nhưng mà cứ nói hẳn không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, không nhận thấy người đó bằng chân thể siêu lý ư? Có lẽ do nhân đó Ngài mới lẹ trí hạn chế người thế này bằng cấp trí này cũng phải nhấn mạnh cách này. Như thế, tôi mới nhấn mạnh Ngài, mà Ngài bị nhấn mạnh đã đúng lắm. Dù rằng Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó mới nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý. Phải nói rằng không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, vì vậy sai. Nhưng nếu không nên nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, nhận thấy người đó bằng chân thể siêu lý. Cũng không thể nói không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà phải nói rằng không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, không nhận thấy thật là người bằng chân thể siêu lý. Như vậy, đây là sự sai của Ngài.

Dứt Tứ phần chinh lệ (Niggahacatukka)

4.              

Phản ngữ: Dù chúng ta nhấn mạnh Ngài, thành ra nhấn mạnh xấu xa, xin Ngài nhận thấy đồng một cách trong chỗ Ngài nhấn mạnh ta, trong bổn phận là phải nói đặng rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý. Nhưng không phải nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý. Tôi cũng vẫn là người cấp trí về phần bảo đảm người thế này bằng cấp trí này, mà Ngài không nên nhấn mạnh cách này như thế. Ngài nhấn mạnh ta, ta mới bị hẳn nhấn mạnh xấu tức là nhấn mạnh như vầy: “Dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi mới nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý ư?” Phải nói đặng rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không thể nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể bằng siêu lý, thế này sai. Nhưng nếu không nên nói rằng thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý ư? Cũng không thể nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài tường thật trong vấn đề đó như vầy: “Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý nhưng không phải nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi nhận thấy người ấy theo thật tướng ấy bằng chân thể siêu lý”, như đây là sự sai của Ngài.

Dứt phần Tứ chủng dẫn nhận (Upanayacatukka)

5.              

Phản ngữ: Tôi không thể bị nhấn mạnh thế này, chính do nhân đó mà Ngài nhấn mạnh tôi rằng dù rằng ông nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, ông mới nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi nhận thấy người ấy theo thật tướng ấy bằng chân thể siêu lý ư? Ông mới nói đặng rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không phải nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý tôi nhận thấy người ấy theo thật tướng ấy bằng chân thể siêu lý như đây sai. Nhưng nếu không phải nói rằng thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, cũng không cần nói tôi nhận thấy người theo chân thể siêu lý. Ông nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không phải nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý như đây sai. Như vậy mới trở thành sự sai của ông. Chính do nhân đó mà Ngài đã nhấn mạnh bằng cách không đúng cách, trái lại của tôi đã làm đúng, cách dẫn nhập của tôi đặng làm đúng rồi.

Dứt Tứ phần chinh lệ (Nigamacatukka)

Dứt Chinh lệ thứ nhất (Nigaha)

6.              

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thật tướng nào thành chân thể siêu lý Ngài không nhận thấy người ấy theo thật tướng ấy bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nhấn mạnh dù ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, mới nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, mà có thể nói đặng như vầy: “Tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không phải nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, như thế vậy sai”. Nhưng nếu không phải nói rằng thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý. Cũng không cần nói tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói đặng rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không phải nói thật tướng nào thành chân thể thành siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, như vậy sai!

Dứt Ngũ chủng đối lập (Paccanikapañcaka).       

7.              

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thật tướng nào là chân thể siêu lý Ngài nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thật tướng nào là chân thể siêu lý tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý; tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý như thế là sai”. Nhưng cũng không nên nói rằng thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy, phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý. Nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý như vậy là sai!

Dứt Tứ chủng nghịch hành (Paṭikammacatukka)           

8.              

Tự ngôn: Ngài cũng còn lập trường như vầy: nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không phải nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, như vậy là sai! Do nhân đó ngài vẫn còn bảo vệ lanh lẹ theo phía người như thế, bằng cấp trí như thế, cũng nhấn mạnh như thế. Bởi vậy, chúng tôi mới nhấn mạnh Ngài, chính Ngài đã bị nhấn mạnh đúng, dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không thể nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sai! Nhưng không nên nói rằng thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý. Cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: Phải nói là tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sự sai của Ngài.

Dứt Tứ chủng chinh lệ (Niggahacatukka)        

9.              

Tự ngôn: Dù nhấn mạnh mà chúng tôi làm cho Ngài đây thành ra nhấn mạnh xấu xa, Ngài nên nhận thấy cho đồng như nhau. Còn sự nhấn mạnh mà Ngài làm cho chúng tôi trong bổn phận là nên trình bày rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý; chúng tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý. Chúng tôi cũng là người vẫn lẹ trí phần bát bẻ người cách ấy do lẹ trí này mà Ngài không nên nhấn mạnh thế này. Bởi vậy, Ngài nhấn mạnh chúng ta, cho nên chúng ta mới bị nhấn mạnh xấu luôn, tức là nhấn mạnh như vầy: “Dù rằng, ông không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, ông mới nói rằng thật tướng nào là chân thể siêu lý tôi nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý”, mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý. Chúng tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, như vậy là sai”; nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý. Tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý. Tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý như thế, đây là sự sai của Ngài”.

Dứt Tứ chủng dẫn nhập (Upanayacatukka)       

10.         

Tự ngôn: Chúng ta không đáng bị nhấn mạnh cách ấy, chính do nhân đó mà Ngài nhấn mạnh chúng ta như vầy: “Dù rằng ông không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói như vầy: Thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng, tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sai! Nhưng cũng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng cũng không nên nói thật tướng nào là chân thể siêu lý, tôi không nhận thấy người đó theo thật tướng đó bằng chân thể siêu lý, như thế vậy là sai! Vì vậy, mới trở thành sự sai của Ngài, chính do nhân đó mới nhấn mạnh mà Ngài đã làm thật không đúng, trái lại, tôi đã làm đặng đúng cách tiến diễn của tôi hẳn là làm đặng trúng.

Dứt Tứ chủng toát yếu (Nigamacatukka)

Dứt Chinh lệ thứ hai (Nigaha)

11.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý (Sacchikatthaparamattha) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người trong mọi chỗ bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (Nigaha) dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tôi nhận thấy người trong mọi chỗ bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi nhận thấy người trong mọi chỗ bằng chân thể siêu lý, thế là sai”. Nhưng không nên nói tôi nhận thấy người trong mọi chỗ bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói rằng tôi nhận thấy người trong mọi chỗ bằng chân thể siêu lý, như vậy là sai.

Dứt Chinh lệ thứ ba (Nigaha)

12.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý (Sacchikatthaparamattha) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ, dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng, tôi nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sai! Nhưng không nên nói rằng tôi nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý, như thế vậy là sai”.

Dứt Chinh lệ thứ tư (Nigaha)

13.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý (Sacchikatthaparamattha) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người theo mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tôi nhận thấy người theo mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi nhận thấy người theo mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý, như vậy là sai. Nhưng không nên nói rằng tôi nhận thấy người theo mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói rằng tôi nhận thấy người theo mỗi thật tướng pháp bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sai!

Dứt Chinh lệ thứ năm (Nigaha)

14.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người trong mỗi chỗ bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói như vầy: “Tôi không nhận thấy người trong mỗi chỗ bằng chân thể siêu lý”, mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý”, nhưng không nên nói như vầy: “Tôi không nhận thấy người trong mỗi chỗ bằng chân thể siêu lý, vậy là sai”. Nhưng không nên nói rằng tôi nhận thấy người trong mỗi chỗ bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi nhận thấy người trong mỗi chỗ bằng chân thể siêu lý, đó là sai”.

Dứt Chinh lệ thứ sáu (Nigaha)

15.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói cách đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tôi không nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không phải nói tôi không nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý, như thế là sai”. Nhưng không nên nói rằng tôi không nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi không nhận thấy người trong mỗi thời bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sai”.

Dứt Chinh lthứ bảy (Nigaha)

16.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người trong mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tôi không nhận thấy người trong mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý, mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói rằng tôi không nhận thấy người trong mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý, thế vậy là sai”. Nhưng không nên nói tôi không nhận thấy người trong mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý, cũng không nên nói tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà Ngài trình bày trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói tôi không nhận thấy người trong mỗi pháp thật tướng bằng chân thể siêu lý”.

Dứt Chinh lệ thứ tám (Nigaha)

---
 

PHẦN THANH TỊNH TỶ GIÁO (SUDDHIKASAṄSANDANĀ)

17.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói như vầy: “Sắc là khác, người cũng là khác!”. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người là khác, như thế vậy sai”. Nhưng cũng không nên nói rằng: Sắc là khác, người cũng là khác; cũng không nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý”; nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác. Như thế vậy sai.

18.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... như nhận thấy Tưởng ... như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thức là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Thức là khác, người cũng là khác, thế vậy sai”. Nhưng không nên nói rằng Thức là khác, người cũng là khác; cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói là tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Thức là khác, người cũng là khác, như thế là sai”.

19.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Nhãn xứ bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... như nhận thấy Nhĩ xứ ... như nhận thấy Tỷ xứ ... như nhận thấy Thiệt xứ ... như nhận thấy Thân xứ ... như nhận thấy Sắc xứ ... như nhận thấy Thinh xứ ... như nhận thấy Khí xứ ... như nhận thấy Vị xứ ... như nhận thấy Xúc xứ ... như nhận thấy Ý xứ ... như nhận thấy Pháp xứ bằng chân thể siêu lý phải chăng?...

20.         

... như nhận thấy Nhãn giới bằng chân thể siêu lý phải chăng?... như nhận thấy Nhĩ giới ... như nhận thấy Tỷ giới ... như nhận thấy Thiệt giới ... như nhận thấy Thân giới ... như nhận thấy Sắc giới ... như nhận thấy Thinh giới ... như nhận thấy Khí Giới (gandhadhātu)... như nhận thấy Vị giới ... như nhận thấy Xúc giới ... như nhận thấy Nhãn thức giới ... như nhận thấy Nhĩ thức giới ... như nhận thấy Tỷ thức giới ... như nhận thấy Thiệt thức giới ... như nhận thấy Thân thức giới ... như nhận thấy Ý giới ... như nhận thấy Ý thức giới ... như nhận thấy Pháp giới bằng chân thể siêu lý phải chăng? ...

21.         

*     Tự ngôn: ... như nhận thấy Nhãn quyền bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... như nhận thấy Nhĩ quyền ... như nhận thấy Tỷ quyền ... như nhận thấy Thiệt quyền ... như nhận thấy Thân quyền ... như nhận thấy Ý quyền ... như nhận thấy Mạng quyền ... như nhận thấy Nữ quyền ... như nhận thấy Nam quyền ... như nhận thấy Lạc quyền ... như nhận thấy Khổ quyền ... như nhận thấy Hỷ quyền ... như nhận thấy Xả quyền ... như nhận thấy Tín quyền ... như nhận thấy Cần quyền ... như nhận thấy Niệm quyền ... như nhận thấy Định quyền ... như nhận thấy Tuệ quyền ... như nhận thấy Tri dị tri quyền ... như nhận thấy Tri dĩ tri quyền ... như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (Nigaha) dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri cụ tri quyền (Aññātāvindrīya) bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác, thế vậy sai”. Nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói rằng Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác, như vậy là sai”.

22.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn, Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc là khác, người cũng là khác phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành (Paṭikamma) dù rằng Đức Thế Tôn có phán như vầy: “Bậc người hành hầu tự lợi vẫn có và Ngài cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý”, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng Đức Thế Tôn phán dạy như vầy: “Bậc người hành tự lợi vẫn có” và tôi cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác. Như thế vậy sai. Nhưng không nên nói rằng Sắc là khác, người cũng là khác. Cũng không nên nói như vầy, Đức Thế Tôn phán dạy rằng Bậc người hành hầu tự lợi vẫn có và tôi cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy, nên nói rằng Đức Thế Tôn phán dạy như vầy: “Người hành hầu tự lợi vẫn có và tôi cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác như thế vậy là sai ...”.

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn, Ngài phán dạy rằng: “Bậc người hành tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Thọ ... và Ngài cũng nhận thấy Tưởng ... và Ngài cũng nhận thấy Hành ... và Ngài cũng nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý phải chăng?

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù rằng Đức Thế Tôn có phán dạy như vầy: “Bậc người hành hầu tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thức là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy, nên nói rằng Đức Thế Tôn phán dạy như vầy: “Bậc người hành hầu tự lợi vẫn có”, và tôi cũng nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói: “Thức là khác, người cũng là khác” như thế vậy là sai. Nhưng không nên nói rằng Thức là khác, người cũng là khác. Cũng không nên nói rằng Đức Thế Tôn Ngài phán dạy như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi cũng nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói là Đức Thế Tôn Ngài phán rằng Bậc người hành hầu tự lợi vẫn có” và tôi cũng nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Thức là khác, người cũng là khác, như thế vậy sai ... .

23.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Nhãn xứ bằng chân thể siêu lý phải chăng ... và Ngài cũng nhận thấy Nhĩ xứ ... và Ngài cũng nhận thấy Pháp xứ ... bằng chân thể siêu lý phải chăng? ...

24.         

Phản ngữ: ... Ngài cũng nhận thấy Nhãn giới bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... và Ngài cũng nhận thấy Thân giới ... và Ngài cũng nhận thấy Sắc giới ... và Ngài cũng nhận thấy Xúc giới ... và Ngài cũng nhận thấy Nhãn thức giới ... và Ngài cũng nhận thấy Ý thức giới ... và Ngài cũng nhận thấy Pháp giới bằng chân thể siêu lý phải chăng?

25.         

*     Phản ngữ: ... và Ngài cũng nhận thấy Nhãn quyền bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... và Ngài cũng nhận thấy Nhĩ quyền bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... và Ngài cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) bằng chân thể siêu lý phải chăng? ...

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn phán dạy rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Tri cụ tri quyền là khác và người cũng là khác phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù cho Đức Thế Tôn phán dạy như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy nên nói rằng Đức Thế Tôn Ngài phán dạy như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác, như thế vậy là sai! Nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác; cũng không nên nói như vầy Đức Thế Tôn phán dạy rằng: “Bậc người hành hầu tự lợi vẫn có” và tôi cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói rằng Đức Thế Tôn phán dạy rằng Bậc người hành để tự lợi vẫn có và tôi cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác, như thế vậy là sai ...

Dứt phần Thanh tịnh tỷ giáo

---

 

PHẦN TỶ GIẢO (OPAMMASAṂSANDANĀ)

26.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý. Sắc là khác, Thọ là khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý. Sắc là khác, Thọ cũng là khác (cách đồng nhau). Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý; Sắc là khác, Thọ cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác, cũng không nên nói như vầy, tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý; Sắc là khác, Thọ cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý; Sắc là khác, Thọ cũng là khác”. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác như thế vậy là sai!

27.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tưởng bằng chân thể siêu lý ... như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý. Sắc là khác, Thức cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý. Sắc là khác, Thức cũng là khác (thứ đồng nhau). Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy nên nói rằng: “Tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý; Sắc là khác, Thức cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác, như thế vậy sai. Mà không nên nói rằng Sắc là khác, người cũng là khác. Cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, Sắc là khác, Thức cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, Sắc là khác, Thức cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác, như thế vậy sai ... .

28.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tưởng ... như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức ... như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý. Thọ là khác, Sắc cũng là khác phải chăng? ...

29.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Tưởng bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức, ... như nhận thấy Sắc ... như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý. Tưởng là khác, Thọ cũng là khác phải chăng? ...

30.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức ... như nhận thấy Sắc ... như nhận thấy Thọ ... như nhận thấy Tưởng bằng chân thể siêu lý. Hành là khác, Tưởng cũng là khác phải chăng? ...

31.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Sắc ... như nhận thấy Thọ ... như nhận thấy Tưởng ... như nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý. Thức là khác, Hành cũng là khác phải chăng? ... Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói như thế.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (Nigaha) dù rằng Ngài nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý. Thức là khác, Hành là khác (thứ đồng nhau). Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thức là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng: “Tôi nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý. Thức là khác, Hành cũng là khác”. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Thức là khác, người cũng là khác. Như thế vậy sai. Nhưng không nên nói rằng Thức là khác, người cũng là khác; cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý; Thức là khác, Hành cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý”, như nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý; Thức là khác, Hành cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý. Nhưng không nên nói rằng Thức là khác, người cũng là khác, như thế vậy sai ...

32.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Nhãn xứ bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhĩ xứ ... như nhận thấy Pháp xứ bằng chân thể siêu lý; Nhãn xứ là khác, Pháp xứ cũng là khác phải chăng?

33.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Nhĩ xứ ... Ngài nhận thấy Pháp xứ bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhãn xứ ... như nhận thấy Ý xứ bằng chân thể siêu lý, Pháp xứ là khác, Ý xứ cũng là khác phải chăng? ...

34.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Nhãn giới bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhĩ giới ... như nhận thấy Pháp giới bằng chân thể siêu lý; Nhãn giới là khác, Pháp giới cũng là khác phải chăng?

35.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Nhĩ giới ... Ngài nhận thấy Pháp giới bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhãn giới ... như nhận thấy Ý thức giới bằng chân thể siêu lý; Pháp giới là khác, Ý thức giới cũng là khác phải chăng? ...

36.         

Tự ngôn: Ngài nhận thấy Nhãn quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhĩ quyền ... như nhận thấy Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) bằng chân thể siêu lý; Nhãn quyền là khác, Tri cụ tri quyền là khác phải chăng? ...

37.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy Nhĩ quyền ... Ngài nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhãn quyền ... như nhận thấy Tri dĩ tri quyền (Aññindrīya) bằng chân thể siêu lý; Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) là khác, Tri dĩ tri quyền (Aññindrīya) cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy Tri cụ tri quyền (Aññatāvindrīya) bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri dĩ tri quyền (Aññindrīya) bằng chân thể siêu lý. Tri cụ tri quyền là khác,Tri dĩ tri quyền cũng là khác (thứ đồng nhau). Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri dĩ tri quyền bằng chân thể siêu lý; Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác, như thế vậy là sai. Nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác; cũng không nên nói tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri dĩ tri quyền bằng chân thể siêu lý; Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri dĩ tri quyền bằng chân thể siêu lý; Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền cũng là khác. Tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác như thế vậy là sai.

38.         

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý, Sắc là khác, Thọ cũng là khác phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bậc người hành hầu tự liên quan vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc là khác, người cũng là khác phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói cách đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù rằng Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý; Sắc là khác, Thọ cũng là khác. Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý. Sắc là khác, Thọ cũng là khác. Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác. Như thế vậy là sai. Nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác. Cũng không nên nói tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý; Sắc là khác, Thọ cũng là khác. Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi vẫn thấy sắc bằng chân thể siêu lý; mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng, tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, Sắc là khác, Thọ cũng là khác. Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là khác, người cũng là khác. Như thế vậy sai. ...

39.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tưởng ... như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý. Sắc là khác, Thức cũng là khác phải chăng?

40.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tưởng ... như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức ... như nhận thấy Sắc bằng chân thể siêu lý. Thọ là khác, Sắc cũng là khác phải chăng?

41.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Tưởng bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Hành ... như nhận thấy Thức ... như nhận thấy Sắc ... như nhận thấy Thọ bằng chân thể siêu lý; Tưởng là khác, Thọ cũng là khác phải chăng? ...

42.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Thức ... như nhận thấy Sắc ... như nhận thấy Thọ ... như nhận thấy Tưởng bằng chân thể siêu lý; Hành là khác, Tưởng cũng là khác phải chăng? ...

43.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Thức bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Sắc ... như nhận thấy Thọ ... như nhận thấy Tưởng ... như nhận thấy Hành bằng chân thể siêu lý; Thức là khác, Hành cũng là khác phải chăng? ...

44.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Nhãn xứ bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhĩ xứ ... như nhận thấy Pháp xứ bằng chân thể siêu lý. Nhãn xứ là khác, Pháp xứ cũng là khác phải chăng?

45.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Nhĩ xứ ... Pháp xứ bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhãn xứ ... như nhận thấy Ý xứ bằng chân thể siêu lý. Pháp xứ là khác, Ý xứ cũng là khác phải chăng? ...

46.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Nhãn giới bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhĩ giới ... như nhận thấy Pháp giới bằng chân thể siêu lý. Nhãn giới là khác, Pháp giới cũng là khác phải chăng? ...

47.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Nhĩ giới bằng chân thể siêu lý ... Ngài nhận thấy Pháp giới bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhãn giới ... như nhận thấy Ý thức giới bằng chân thể siêu lý; Pháp giới là khác, Ý thức giới cũng là khác phải chăng? ...

48.         

Phản ngữ: Ngài nhận thấy Nhãn quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhĩ quyền ... như nhận thấy Tri cụ tri quyền (Aññātāvindrīya) bằng chân thể siêu lý. Nhãn quyền là khác, Tri cụ tri quyền là khác phải chăng? ...

49.         

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy Nhĩ quyền ... Tri cụ tri quyền ... bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Nhãn quyền ... như nhận thấy Tri dĩ tri quyền (Aññindrīya) bằng chân thể siêu lý; Tri cụ tri quyền (Aññātāvindrīya) là khác, Tri dĩ tri quyền (Aññindrīya) cũng là khác phải chăng? ... Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó!

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành, dù rằng Ngài nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri dĩ tri quyền bằng chân thể siêu lý; Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền cũng là khác. Đức Thế Tôn Ngài có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và Ngài cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền cũng là khác. Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi cũng nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Nhưng không nên nói rằng Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Như thế vậy sai. Nhưng chớ nên nói như vầy: “Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác. Cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý như nhận thấy Tri dĩ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền cũng là khác. Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, như nhận thấy Tri dĩ tri quyền bằng chân thể siêu lý. Tri cụ tri quyền là khác, Tri dĩ tri quyền cũng là khác. Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có” và tôi nhận thấy Tri cụ tri quyền bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền là khác, người cũng là khác, như thế vậy là sai!...

Dứt phần Tỷ giảo (Opammasaṅsandanā)

---

 

PHẦN TỨ CHỦNG TỶ (CATUKKANAYASAṄSANDANĀ)

50.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc là người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý”, nhưng không nên nói Sắc là người, như thế vậy sai. Nhưng không thể nói Sắc là người, cũng không nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc là người, như thế vậy sai”...

51.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người trong Sắc phải chăng? ... Người ngoài ra Sắc phải chăng? ... Sắc trong người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc trong người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Sắc trong người, như thế vậy sai”. Nhưng chớ nói rằng Sắc trong người, cũng chẳng nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng chớ nên nói Sắc trong người, như thế vậy sai” ...

52.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thọ là người phải chăng? ... Người trong Thọ phải chăng? ... Người ngoài ra Thọ phải chăng? ... Thọ trong người phải chăng? ... Tưởng là người phải chăng? ... Người trong Tưởng phải chăng? ... Người ngoài ra Tưởng phải chăng? ... Tưởng trong người phải chăng? ... Hành là người phải chăng? ... Người trong Hành phải chăng? ... Người ngoài ra Hành phải chăng? ... Hành trong người phải chăng? ... Thức là người phải chăng? ... Người trong Thức phải chăng? ... Người ngoài ra Thức phải chăng? ... Thức trong người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thức trong người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Thức trong người, như thế vậy sai”. Nhưng chớ nên nói rằng Thức trong người, cũng không nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Thức trong người. Như thế vậy sai”.

53.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn xứ là người phải chăng? ... Người trong Nhãn xứ phải chăng? ... Người ngoài ra Nhãn xứ phải chăng? ... Nhãn xứ trong người phải chăng? ... Pháp xứ là người phải chăng? ... Người trong Pháp xứ phải chăng? ... Pháp xứ trong người phải chăng?...

54.         

 ... Nhãn giới là người phải chăng? ... Người trong Nhãn giới phải chăng? ... Người ngoài ra Nhãn giới phải chăng? ... Nhãn giới trong người phải chăng? ... Pháp giới là người phải chăng? ... Người trong Pháp giới phải chăng? ... Người ngoài ra Pháp giới phải chăng? ... Pháp giới trong người phải chăng? ...

55.         

*     Tự ngôn: ... Nhãn quyền là người phải chăng? ... Người trong Nhãn quyền phải chăng? ... Người ngoài ra Nhãn quyền phải chăng? ... Nhãn quyền trong người phải chăng? ... Tri cụ tri quyền là người phải chăng? ... Người trong Tri cụ tri quyền (Aññātāvindrīya) phải chăng? ... Người ngoài ra Tri cụ tri quyền phải chăng? ... Tri cụ tri quyền trong người phải chăng? ... Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tri cụ tri quyền trong người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền trong người, như thế vậy là sai”. Nhưng chớ nói rằng Tri cụ tri quyền trong người, cũng không nên nói tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng, tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền trong người, như thế vậy là sai”...

56.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? ... Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, như thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc là người phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù rằng Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc là người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng Đức Phật có phán rằng Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, nhưng không nên nói Sắc là người, thế vậy là sai. Nhưng chớ nên nói Sắc là người, cũng không nên nói Đức Phật có phán rằng Bậc người hành để tự lợi vẫn có, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng Đức Phật Ngài có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, chớ nên nói Sắc là người vì thế vậy sai ...

57.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có, như thế vậy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người trong Sắc phải chăng? … Người ngoài ra Sắc phải chăng? … Sắc trong người phải chăng? ... Thọ trong người phải chăng? ... Người trong Thọ phải chăng? ... Người ngoài ra Thọ phải chăng? ... Thọ trong người phải chăng?... Tưởng là người phải chăng? ... Người trong Tưởng phải chăng? ... Người ngoài ra Tưởng phải chăng? ... Tưởng trong người phải chăng? ... Hành là người phải chăng? ... Người trong hành phải chăng? ... Người ngoài ra hành phải chăng? ... Hành trong người phải chăng?... Thức là người phải chăng? ... Người trong Thức phải chăng? ... Thức ngoài ra người phải chăng? ... Thức trong người phải chăng?... Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù cho Đức Phật có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thức trong người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng Đức Phật có phán như vầy, người hành để tự liên quan vẫn có”, mà không nên nói Thức trong người, thế vậy là sai! Nhưng chớ nên nói Thức trong người, cũng chẳng nên nói Đức Phật có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng Đức Thế Tôn Ngài có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, nhưng chớ nên nói Thức trong người, như thế vậy sai.

58.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Phật Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có, như thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nhãn xứ là người phải chăng? ... Người trong Nhãn xứ phải chăng? ... Người ngoài ra Nhãn xứ phải chăng? ... Nhãn xứ trong người phải chăng? ... Pháp xứ là người phải chăng? ... Người trong Pháp xứ phải chăng? ... Người ngoài ra Pháp xứ phải chăng? ... Pháp xứ trong người phải chăng?... Nhãn giới là người phải chăng? ... Người trong Nhãn giới phải chăng? ... Người ngoài ra Nhãn giới phải chăng? ... Nhãn giới trong người phải chăng?... Pháp giới là người phải chăng? ... Người trong Pháp giới phải chăng? ... Người ngoài ra Pháp giới phải chăng? ... Pháp giới trong người phải chăng? ...

59.         

*     Phản ngữ: ... Nhãn quyền là người phải chăng? ... Người trong Nhãn quyền phải chăng? ... Người ngoài ra Nhãn quyền phải chăng? ... Nhãn quyền trong người phải chăng? ... Tri cụ tri quyền (Aññātāvindrīya) là người phải chăng? ... Người trong Tri cụ tri quyền phải chăng? ... Người ngoài ra Tri cụ tri quyền phải chăng? ... Tri cụ tri quyền trong người phải chăng? ... Tự ngôn: Không nên nói thế đó!

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù rằng Đức Phật có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tri cụ tri quyền trong người, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng Đức Phật Ngài có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, nhưng không nên nói Tri cụ tri quyền trong người, như thế vậy là sai. Nhưng chớ nên nói Tri cụ tri quyền trong người, cũng chẳng nên nói Phật Ngài có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy, phải nói rằng Đức Phật có phán như vầy: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, nhưng chớ nên nói Tri cụ tri quyền trong người, như thế vậy sai ...

Dứt phần Tứ chủng tỷ (Catukkhaṇayasaṅsandanā)

---

 

PHẦN TƯỚNG BÌNH ĐẲNG (LAKKHAṆAYUTTIKATĀ)

60.         

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người hữu duyên (sappaccaya) phải chăng? ... Người vô duyên (appaccaya) phải chăng? ... Người là hữu vi phải chăng? ... Người là vô vi phải chăng? ... Người trường tồn (sassata) phải chăng? ... Người vô thường (asassata) phải chăng? ... Người hữu tướng (sanimitta) phải chăng? ... Người vô tướng (animitta) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... dón gọn (saṅkhitta).

61.         

*     Phản ngữ: Ngài không nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Phật có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, như thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người hữu duyên phải chăng? ... Người vô duyên phải chăng? ... Người là hữu vi phải chăng? ... Người là vô vi phải chăng? ... Người là trường tồn phải chăng? ... Người không trường tồn phải chăng? ... Người hữu tướng phải chăng? ... Người vô tướng phải chăng? ... Tự ngôn: Không nên nói thế đó... dón gọn (Saṅkhitta).

Dứt phần Tướng bình đẳng

---

 

NGỮ THANH KHIẾT (VOCANASODHANA)

62.         

*     Tự ngôn: Người là thật tướng mà nhận thấy đặng, thật tướng chỗ nhận thấy đặng cũng là người phải chăng? Phản ngữ: Người là thật tướng hoặc có chổ nhận thấy đặng thành người hoặc không thành người.

*     Tự ngôn: Hoặc có người là thật tướng mà nhận thấy đặng, hoặc thành thật tướng mà nhận thấy không đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói cách đó ...

63.         

*     Tự ngôn: Người là thật tướng chắc thật (chân thể), thật tướng chắc chắn cũng là người phải chăng? Phản ngữ: Người là thật tướng chỗ chắc chắn, nhưng thật tướng lối chắc chắn cũng có thành người, cũng không thành người.

*     Tự ngôn: Cũng có người là thật tướng chắc chắn, cũng có người là phi thật tướng chắc chắn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

64.         

*     Tự ngôn: Người là thật tướng chỗ đang gặp gỡ, thật tướng chỗ đang gặp gỡ cũng là người phải chăng? Phản ngữ: Người là thật tướng chỗ đang gặp gỡ, nhưng thật tướng chỗ đang gặp gỡ hoặc thành người, hoặc không thành người.

*     Tự ngôn: Cũng có người thành thật tướng chỗ đang gặp gỡ, cũng có không thành thật tướng chỗ đang gặp gỡ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

65.         

*     Tự ngôn: Người thành thật tướng đang hiện bày, thật tướng đang hiện bày đang thành người phải chăng? Phản ngữ: Người thành thật tướng chỗ đang hiện bày; nhưng thật tướng chỗ đang hiện bày hoặc thành người, hoặc không thành người.

*     Tự ngôn: người thành thật tướng đang hiện bày, cũng có không thành thật tướng đang hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

66.         

*     Tự ngôn: Người thành thật tướng đang có, thật tướng đang có cũng thành người phải chăng? Phản ngữ: Người thành thật tướng đang có, nhưng thật tướng đang có hoặc thành người hoặc không thành người.

*     Tự ngôn: người thành thật tướng đang có, hoặc không thành thật tướng đang có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

67.         

*     Tự ngôn: Người thành thật tướng chổ đang có, nhưng thật tướng chỗ đang có không thành người tất cả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người thành thật tướng chổ đang có, nhưng thật tướng chỗ đang không có không thành người tất cả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó! ... rút gọn (saṅkhitta).

Dứt Ngữ thanh khiết

---

 

CẬT VẤN CHẾ ĐỊNH (PAÑÑATTĀNUYOGA)

68.         

*     Tự ngôn: Người gọi là sắc do Sắc giới (Rūpadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người gọi là hữu dục do Dục giới (Kāmadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

69.         

*     Tự ngôn: Tất cả chúng sanh gọi là hữu sắc do Sắc giới (Rūpādhātu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tất cả chúng sanh gọi là hữu dục do Dục giới (Kāmadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

70.         

*     Tự ngôn: Người gọi là vô sắc bởi Vô sắc giới (Arūpadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người gọi là hữu dục do Dục giới (Kāmadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Tất cả chúng sanh gọi là vô sắc do Vô sắc giới (Arūpadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tất cả chúng sanh gọi là hữu dục do Dục giới (Kāmadhātu) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

71.         

Tự ngôn: Tất cả chúng sanh gọi là hữu sắc do Sắc giới (Rūpadhātu); tất cả chúng sanh gọi là Vô Sắc do Vô sắc giới (Arūpadhātu); và có người đã lướt khỏi Sắc giới vào đến Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

72.         

*     Tự ngôn: Tất cả chúng sanh gọi là hữu sắc do Sắc giới (Rūpadhātu); Tất cả chúng sanh gọi là vô sắc do Vô sắc giới (Arūpadhātu); và có người đã lướt khỏi Sắc giới vào đến Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chúng sanh hữu sắc đã tiêu diệt, thì chúng sanh vô sắc mới sanh lên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

73.         

*     Tự ngôn: Định đặt gọi mình hay gọi thân thể, gọi thân thể hay gọi mình gồm chung lại cũng là thân. Chế định cả hai cách như thế cũng là một thứ, một ý nghĩa đồng nhau, giống như nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Định đặt rằng người hoặc gọi linh hồn, hay gọi linh hồn hoặc gọi người, chung quy cũng là người, cả hai chế định như thế cũng một cách, một ý nghĩa hẳn đồng như nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Linh hồn là khác, thân thể là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ dù cho định đặt gọi mình, gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình gồm chung lại là thân, cả hai chế định như thế cũng một thứ, một ý nghĩa, đều đồng bằng như nhau. Định đặt là người hoặc linh hồn, hoặc gọi linh hồn hay gọi người chung quy cũng là người, chế định cả hai như thế cũng một thứ, một ý nghĩa đều đồng bằng như nhau. Nói thân là khác, người cũng là khác. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng linh hồn là khác, thân thể cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng định đặt gọi mình hoặc thân thể hay gọi thân thể hoặc gọi mình, chung quy lại là thân. Chế định cả hai thứ ấy cũng một thứ, có một ý nghĩa vẫn đều đồng như nhau. Chế định gọi thân hoặc gọi linh hồn, hay gọi linh hồn hoặc gọi thân, chung quy chế định cả hai thứ như thế cũng một cách, một nghĩa đều đồng như nhau. Thân là khác, người là khác. Nhưng không nên nói rằng linh hồn là khác, thể xác là khác, như thế vậy là sai. Nhưng chớ nên nói rằng linh hồn là khác, thể xác là khác; cũng không nên nói như vầy: định đặt gọi mình hay gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình, chung quy lại là thân. Chế định cả hai cách này lại cũng một thứ, một nghĩa đồng bằng như nhau. Định đặt là thân hoặc gọi linh hồn; hay gọi linh hồn hoặc gọi thân chung quy lại là người. Chế định cả hai cũng như một thứ, một ý nghĩa đồng bằng như nhau. Thân thể là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng định đặt gọi mình hay gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình, chung quy lại là thân. Chế định cả hai thứ như thế cũng là một thứ, một ý nghĩa đều đồng như nhau. Định đặt thân hoặc gọi linh hồn, hay gọi linh hồn hoặc gọi thân chung quy là người, chế định cả hai thứ như thế cũng là một thứ, một ý nghĩa đều đồng như nhau. Gọi thân là khác, người cũng là khác, nhưng chớ nên nói như thế này: Linh hồn là khác, thể xác là khác, như thế vậy là sai.

74.         

*     Phản ngữ: Định đặt gọi mình hay gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình, chung quy là thân, chế định cả 2 như thế cũng một cách, một nghĩa lý, đều đồng bằng như nhau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”, như thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thân là khác, người cũng là khác phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.

*     Phản ngữ: Ngài nên lãnh hội nghịch hành dù rằng định đặt gọi mình hay gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình chung quy cũng là thân. Chế định cả hai như thế cũng một thứ, một nghĩa đều đồng như nhau. Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bậc người hành để tự liên quan đang có”, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thân là khác, người cũng là khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: Phải nói rằng định đặt gọi mình, hay gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình, chung quy lại là thân. Chế định cả hai thứ như thế cũng một cách, một ý nghĩa đều đồng như nhau. Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”; nhưng không nên nói thân là khác, người cũng là khác như thế vậy là sai, nhưng không nên nói thân là khác, người cũng là khác. Cũng chớ nói rằng chế định gọi mình hay gọi thân thể, hoặc gọi thân thể hay gọi mình, chung quy cũng là thân. Chế Định cả hai như thế cũng một thứ một nghĩa đều đồng như nhau. Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng định đặt gọi mình hay gọi thân thể hoặc gọi thân thể hay gọi mình, quy chung lại chỉ là thân; chế định cả hai như thế cũng một thứ, một ý nghĩa đều đồng như nhau. Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bậc người hành để tự lợi vẫn có”. Nhưng không nên nói rằng: “Thân là khác, người cũng là khác”, như thế vậy là sai.

Dứt Chế định cật vấn

---

 

THÚ HƯỚNG CẬT VẤN (GATIANUYOGA)

76.

*     Tự ngôn: Người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chính người đó luôn chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

77.

*     Tự ngôn: Người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người khác luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

78.

*     Tự ngôn: Người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chính tự người đó luôn tự người khác luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

79.

*     Tự ngôn: Người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chính người đó cũng không đặng luân chuyển đi, người khác cũng không đặng luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

80.

*     Tự ngôn: Người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi, người khác luân chuyển đi cũng chính người đó luôn người khác luân chuyển đi. Người đó không đặng luân chuyển đi, người khác cũng không đặng luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

81.

*     Phản ngữ: Chớ nên nói rằng người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Người đó luân chuyển đi 7 lần là quá rồi sẽ thành người làm cho tận khổ đặng, bởi hết tất cả triền”, như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu cách đó thì người cũng luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác; khỏi thế giới khác đến thế giới này chớ gì?

82.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: "Này Chư Phíc-khú, cách luân chuyển đi của tất cả chúng sanh kẻ có vô minh là đồ phòng ngại, có Ái là đồ ràng rịch, luân chuyển luân hồi vô thủy vô chung”, như thế là vẫn có nghe chắc thật phải không? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu cách đó người cũng luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này chớ gì?

83.

*     Tự ngôn: Người luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: người thành nhân loại rồi thành Chư thiên cũng có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhân loại cũng chính người đó, Chư thiên cũng chính người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhân loại cũng chính người đó, Chư thiên cũng chính người đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người thành nhân loại rồi thành Chư thiên, thành Chư thiên rồi thành nhân loại. Nhân loại sanh lên Chư thiên thành người khác, rồi sanh về nhân loại cũng là người khác (thành người riêng người). Còn nói chính người đó luân chuyển đi như thế là sai; còn nếu nói người luân chuyển đi chính người đó vượt khỏi thế giới này đi đến thế giới khác chẳng phải người khác, nếu như vậy thì sự chết sẽ không có, dĩ nhiên sát sanh cũng sẽ nhận thấy không đặng, nghiệp vẫn có, quả của nghiệp vẫn có, quả tất cả của nghiệp đã làm vẫn có, thiện và bất thiện vẫn cho quả. Nói rằng: “Chính người đó luân chuyển đi vậy là sai”...

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: người thành nhân loại rồi thành dạ xoa ... thành ngạ quỉ ... thành địa ngục ... thành bàng sanh ... thành lừa ... thành lạc đà ... thành bò ... thành heo ... thành trâu cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhân loại chính là người đó, trâu cũng chính là người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhân loại cũng chính là người đó, trâu cũng chính là người đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người thành nhân loại rồi thành con trâu, thành con trâu rồi thành nhân loại, là người sanh làm nhân loại thì con trâu là khác, người sanh làm nhân loại cũng là khác. Nói rằng chính người đó luân chuyển đi thế vậy là sai ... Nếu nói người luân chuyển đi, chính người đó vượt khỏi thế giới này đi đến thế giới khác, chẳng phải người khác; nếu như vậy sự chết sẽ không có. Tuy nhiên sát sanh cũng sẽ nhận thấy không đặng, nghiệp vẫn có, quả của nghiệp vẫn có, quả của tất cả nghiệp đã làm vẫn có, thì thiện và bất thiện vẫn cho quả. Còn nói rằng: “Chính người đó luân chuyển đi, thế vậy là sai”...

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: người đã làm vua rồi làm phạm chí cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Làm vua cũng chính là người đó, làm phạm chí cũng chính là người đó chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: người làm vua rồi làm thương gia ... làm cận thắng tiện dân cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Làm vua cũng chính là người đó, làm cận thắng tiện dân cũng chính là người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: người làm phạm chí rồi làm thương gia, làm cận thắng tiện dân ... làm vua cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Phạm chí cũng chính là người đó, vua cũng chính là người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: người làm thương gia rồi làm cận thắng tiện dân ... làm vua ... rồi làm phạm chí cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thương gia chính cũng là người đó, phạm chí chính cũng là người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: người làm cận thắng tiện dân rồi làm vua ... làm thương gia cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cận thắng tiện dân cũng là người đó, thương gia chính cũng người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Tự người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người cụt tay thì thành người cụt tay phải chăng? Người cụt chân thì thành người cụt chân phải chăng? Người cụt tay và chân thì thành người cụt tay và chân phải chăng? Người lỗ tai vảnh ... người lỗ mũi hỉnh lên ... người có tai vảnh và mủi hỉnh lên ... người cụt ngón tay ngón chân ... người cụt ngón tay cái, ngón chân cái ... người đứt gân to ... người tay quấu ... người tay xòe ... người bệnh suyển ... người lé ... người bệnh lác ... người có trái rạ, ... người có lác voi, ... người ho lao ... người phong xù ... con lạc đà ... con bò ... con lừa ... con heo ... con trâu cũng chỉ thành con trâu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

84.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng: “Tự người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng”? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người thành Dự Lưu vượt khỏi thế giới nhân loại vào đến thế giới Chư thiên, rồi chỉ vẫn thành Dự Lưu dĩ nhiên trong thế giới Chư thiên đó chẳng phải hay sao? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dầu rằng bực người thành tựu Dự Lưu vượt khỏi thế giới nhân loại vào đến thế giới Chư thiên rồi chỉ vẫn là Dựu Lưu dĩ nhiên trong thế giới Chư thiên đó. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tự người đó luân chuyển ra khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này.

85.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng bực người thành tựu Dự Lưu lướt khỏi thế giới nhân loại vào đến thế giới Chư thiên rồi hẳn là chỉ nhập lưu dĩ nhiên trong thế giới Chư thiên đó, và do nhân đó chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhứt định rằng bực thành tựu Dựu Lưu vượt khỏi thế giới nhân loại vào đến thế giới Chư thiên rồi còn thành nhân loại ở tại thế giới Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

86.

*     Tự ngôn: Tự người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Không thành khác, không thay đổi mà luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

87.

*     Tự ngôn: Không thành ra khác, không thay đổi mà luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người cụt tay thì thành người cụt tay phải chăng? Người cụt chân thì thành người cụt chân phải chăng? ... người có lỗ tai vảnh ... người có lỗ mũi hỉnh lên ... Người có tai vảnh, lỗ mũi hỉnh lên ... người cụt ngón tay và ngón chân ... người cụt ngón chân và ngón tay cái ... người đứt gân to ... người tay quấu ... người tay xòe ... người bệnh suyễn ... người lé ... người bịnh lác ... người có trái rạ ... người có lác voi ... người ho lao ... người phong xù ... con lạc đà ... con lừa ... con bò ... con heo ... con trâu cũng chỉ thành con trâu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

88.

*     Tự ngôn: Tự người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thành người có hình sắc luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thành người có hình sắc luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Linh hồn cũng cái đó, thể xác cũng cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Thành người có Thọ ... thành người có Tưởng ... thành người có Hành ... thành người có Thức luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thành người có thức luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Linh hồn cũng là cái đó, thể xác cũng là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

89.

*     Tự ngôn: Tự người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thành người vô Sắc luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thành người vô Sắc luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hồn là khác, xác cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thành người vô Thọ ... thành người vô Tưởng ... thành người vô Hành ... thành người vô Thức luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thành người vô Thức luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hồn là khác, xác cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

90.

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sắc luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hồn cũng là cái đó, xác cũng là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thức luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hồn cũng cái đó, xác cũng cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

91.

*     Tự ngôn: Chính người đó luân chuyển đi khỏi thế giới này đến thế giới khác, khỏi thế giới khác đến thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc không luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sắc không luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hồn là khác, xác cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức không luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thức không luân chuyển đi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hồn là khác, xác cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... dón gọn (saṅkhitta).

*     Tự ngôn: Dả như người chết đi trong khi tất cả uẩn diệt mất đi cũng là đoạn kiến mà Đức Phật Ngài đã chưa hẳn. Dù cho người không diệt mất trong khi các uẩn diệt mất. Nếu mà người không chết mất trong khi các uẩn diệt đi thì người cũng sẽ trường tồn (nếu vậy) sẽ đồng như Níp-bàn.

Dứt thú hướng cật vấn

---

 

Y CHẾ ĐỊNH CẬT VẤN (UPĀDĀPAÑÑATTĀNUYOGA)

92.
  • Tự ngôn: Do nương Sắc mới chế định người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Sắc vô thường là hữu vi nương duyên sanh ra vẫn có sự mất đi, dĩ nhiên có hoại cố nhiên tiêu tan, vẫn phải diệt, thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Cho đến người cũng không trường tồn là hữu vi do nhờ duyên sanh ra, lẽ thường phải mất đi, lẽ phải hư hoại, dĩ nhiên phải tiêu tan, cố nhiên phải diệt mất thay đổi là lối thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương Thọ, ... do nương Tưởng, ... do nương Hành, ... do nương Thức mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thức vô thường thành hữu vi nương duyên sanh ra vẫn có sự mất đi, ... vẫn có hư hao, ... vẫn có tiêu tan, ... vẫn có diệt đi, ... vẫn có biến đổi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Người cũng phải vô thường thành hữu vi nương duyên mới sanh ra, vẫn phải có mất, vẫn có hư, vẫn có tan rã, vẫn có diệt đi, vẫn có thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
93.
  • Tự ngôn: Do nương Sắc mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương sắc xanh mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương sắc vàng ... do nương sắc đỏ ... do nương sắc trắng ... do nương sắc thấy đặng ... do nương sắc thấy không đặng ... do nương sắc đụng không đặng mới chế định ra người đụng không đặng phải chăng. Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
94.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ thiện mới chế định ra người thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ thiện mới chế định ra người thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thọ thiện có dị thục quả, có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng bành tướng tâm, có quả vô hại, lợi ích an vui, quả dị thục lạc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
  • Tự ngôn: Cho đến người thiện cũng có dị thục quả, có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng mở mang tâm, có quả vô hại lợi ích an vui và dị thục quả lạc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
95.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ bất thiện mới chế định ra người bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ bất thiện mới chế định ra người bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thọ bất thiện có dị thục quả, có quả không đáng mong mỏi, có quả không đáng ưa thích, có quả không đáng mở mang tâm, có quả hại có tăng thêm khổ và có quả dị thục khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Cho đến người bất thiện cũng có dị thục quả không đáng mong mỏi, có quả không đáng ưa thích, có quả không đáng mở mang tâm, có quả hại có khổ tăng thêm và có dị thục quả khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
96.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ vô ký mới chế định thành người vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
  • Tự ngôn: Do nương Thọ vô ký mới chế định thành người vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thọ vô ký không thường, thành hữu vi nương duyên mới sanh ra, lẽ thường có sự mất, vẫn có sự suy đồi, vẫn có sự tan rã, vẫn có sự diệt mất và vẫn có sự đổi thay phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Cho đến người vô ký cũng không trường tồn, thành hữu vi nương duyên sanh ra, vẫn có sự mất, vẫn có sự suy đồi, vẫn có sự tan rã, vẫn có sự tiêu diệt và vẫn có sự đổi thay phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó …
  • Tự ngôn: Do nương Tưởng ... do nương Hành .... do nương Thức mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thức thiện mới chế định thành người thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó .
  • Tự ngôn: Do nương Thức thiện mới chế định thành người thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thức thiện có dị thục quả, có quả đáng mong mỏi, quả đáng ưa thích, quả đáng mở mang tâm, quả không hại lợi ích an vui, có quả dị thục lạc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi
  • Tự ngôn: Cho đến người thiện cũng có dị thục quả, có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng mở mang tâm, có quả không hại lợi ích an vui, có quả dị thục lạc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
 97.
  • Tự ngôn: Do nương Thức mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi
  • Tự ngôn: Do nương Thức bất thiện mới chế định thành người bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương Thức bất thiện mới chế định thành người bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thức bất thiện có dị thục quả, có quả không đáng mong mỏi, có quả không đáng ưa thích, có quả không đáng mở mang tâm, có quả hại, có khổ càng thêm và có quả dị thục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Cho đến người bất thiện cũng có quả dị thục, quả không đáng mong mỏi, có quả không đáng ưa thích, có quả không đáng mở mang tâm, có quả hại, có khổ càng thêm và có dị thục quả khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
98.
  • Tự ngôn: Do nương Thức mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thức vô ký mới chế định thành người vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương Thức vô ký mới chế định thành người vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thức vô ký không bền, thành hữu vi nương duyên mới sanh ra thành hữu tận, vẫn có sự hư hoại, vẫn có sự rã tan, vẫn có sự tiêu diệt và vẫn có sự đổi thay phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Đến đổi người vô ký cũng không trường tồn, là hữu vi nương duyên sanh ra vẫn phải hữu tận, có sự hoại hư, phải tan rã, có sự diệt mất và vẫn có đổi thay phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
99.
  • Tự ngôn: Do nương nhãn mới gọi là người hữu nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi nhãn diệt đi rồi mới gọi là người có nhãn đã diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói như thế đó ...
  • Tự ngôn: Do nương nhĩ ... do nương tỷ ... do nương thiệt... do nương thân ... do nương ý mới gọi là người có ý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi ý đã diệt mới gọi là người có ý đã diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
100.
  • Tự ngôn: Do nương Tà kiến mới gọi là người Tà kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi người Tà kiến đã diệt mới gọi là người Tà kiến đã diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
101.
  • Tự ngôn: Do nương tà tư duy ... do nương tà ngữ ... do nương tà nghiệp ... do nương tà mạng ... do nương tà tinh tấn ... do nương tà niệm ... do nương tà định mới gọi là người tà định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi tà định đã diệt mới gọi là người có tà định đã diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
102.
  • Tự ngôn: Do nương Chánh kiến mới gọi là người Chánh kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Chánh tư duy ... do nương Chánh ngữ ... do nương Chánh nghiệp ... do nương Chánh mạng ... do nương Chánh tinh tấn ... do nương Chánh niệm ... do nương Chánh định mới gọi là người có Chánh định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi Chánh định đã diệt thời gọi là người có Chánh định đã diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
103.
  • Tự ngôn: Do nương Sắc, do nương Thọ mới chế định là người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Nhị uẩn mới chế định là người Nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương Sắc, do nương Thọ, do nương Tưởng, do nương Hành, do nương Thức mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Ngũ uẩn mới chế định ra người Ngũ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
104.
  • Tự ngôn: Do nương Nhãn xứ, do nương Nhĩ xứ, mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Nhị xứ mới chế định là người Nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
105.
  • Tự ngôn: Do nương Nhãn xứ, do nương Nhĩ xứ ... do nương Pháp xứ mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thập nhị xứ mới chế định ra người Thập nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
106.
  • Tự ngôn: Do nương Nhãn giới, do nương Nhĩ giới mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Nhị giới mới chế định ra người Nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
107.
  • Tự ngôn: Do nương Nhãn giới, do nương Nhĩ giới ... do nương Pháp giới mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Thập bát giới mới chế định ra người Thập bát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
108.
  • Tự ngôn: Do nương Nhãn quyền, do nương Nhĩ quyền mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Nhị quyền mới chế định ra người Nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
109.
  • Tự ngôn: Do nương Nhãn quyền, do nương Nhĩ quyền ... do nương Tri cụ tri quyền (aññātāvindrīya) mới chế định ra người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Nhị thập nhị quyền mới chế định ra người Nhị thập nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
110.
  • Tự ngôn: Do nương Nhứt uẩn hữu mới chế định ra người Nhứt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Tứ uẩn hữu mới chế định ra người Tứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
111.
  • Tự ngôn: Do nương Nhứt uẩn hữu mới chế định ra người Nhứt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do nương Ngũ uẩn hữu mới chế định ra người Ngũ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
112.
  • Tự ngôn: Trong Nhứt uẩn hữu chỉ có người Nhứt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Trong Tứ uẩn hữu chỉ có người Tứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
113.
  • Tự ngôn: Trong Nhứt uẩn hữu chỉ có người Nhứt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Trong Ngũ uẩn hữu chỉ có người Ngũ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
114.
  • Tự ngôn: Do nương cội cây mới mới chế định ra bóng cây phải chăng? Thế nào thì chính thế đó do nương Sắc mới chế định ra người phải chăng?
  • Tự ngôn: Do nương cội cây mới chế định ra bóng cây, tuy nhiên cội cây cũng không trường tồn thì bóng cây cũng không trường tồn, thế nào thì chính thế đó do nương Sắc mới chế định ra người mà sắc không trường tồn thì người cũng không trường tồn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương cội cây mới chế định ra bóng cây; cây là khác bóng cũng là khác, như thế nào thì cũng như thế đó do nương Sắc mới chế định ra người, sắc là khác người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương thôn quê mới chế định ra người thôn quê, thôn quê là khác, người thôn quê cũng là khác; như thế nào thì cũng vậy do nương Sắc mới chế định ra người, thì sắc là khác, người là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Do nương quốc gia mới chế định ra vua, như thế nào thì giống như thế đó do nương Sắc mới chế định ra người phải chăng?
  • Tự ngôn: Do nương quốc gia mới chế định ra vua, quốc gia là khác vua cũng khác. Như thế nào thì cũng như thế đó do nương Sắc mới chế định ra người; sắc là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Cái còng (chân) không phải là người bị còng chân. Cái còng chân có với người nào thì riêng người đó gọi là người bị còng. Như thế nào thì cũng như thế đó sắc không phải người có sắc, sắc có với người nào thì riêng người đó gọi là người có sắc phải chăng?
  • Tự ngôn: Cái còng (chân) không phải người bị còng chân. Cái còng chân có với người nào thì riêng người đó gọi là người bị còng chân. Cái còng chân là khác, người bị còng chân cũng là khác; như thế nào thì cũng như thế đó, sắc không phải là người có sắc, sắc có với người nào thì riêng người đó gọi là người có sắc. Sắc là khác, người có sắc cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
115.
  • Tự ngôn: Chế định ra người do trong mỗi cái tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Mỗi cái tâm chỉ sanh ra cho một người, từ tái tục cho đến già, đến chết, luôn sanh ra nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói rằng người đó hoặc người khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói rằng con trai hoặc con gái phải chăng? Phản ngữ: Nên nói.
  • Tự ngôn: Xin Ngài lãnh hội chinh lệ dù rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói là người đó hoặc người khác. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói rằng con trai hay con gái. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra không đặng nói là người đó hay người khác. Nhưng nên nói là con trai hoặc con gái, như thế vậy là sai”. Dù rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra nên nói là con trai hoặc con gái, chính do nhân đó Ngài mới nói rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra nên nói rằng người đó hoặc người khác. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy phải nói rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói là người đó hay người khác, nhưng nên nói là con trai hoặc con gái như thế vậy là sai.
116.
  • Tự ngôn: Khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói rằng người đó hay là người khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói rằng là nữ hoặc nam ... hay cư sĩ hoặc xuất gia ... hay là Chư thiên hoặc nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Xin Ngài lãnh hội chinh lệ dù rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra không thể nói là người này hay người khác. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng khi cái tâm thứ hai sanh không thể nói là Chư thiên hay nhân loại. Mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Khi cái tâm thứ hai sanh không thể nói đó là người này hay người khác, mà phải nói rằng đó là Chư thiên hay nhân loại, như thế vậy là sai”. Dù cho rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra nên nói là Chư thiên hay nhân loại, chính do nhân đó, Ngài mới nói là khi cái tâm thứ hai sanh ra nên nói đặng là người đó hoặc người khác, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng khi cái tâm thứ hai sanh ra không nên nói là người đó hay người khác, nhưng nên nói là Chư thiên hoặc nhân loại, như thế vậy là sai”.
117.
  • Phản ngữ: Không nên nói Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Người nào thấy, thấy sắc nào, thấy bằng con mắt nào mới nên nói rằng người đó thấy, thấy sắc đó, thấy với con mắt đó phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Dù rằng người nào thấy, thấy sắc nào, thấy bằng con mắt nào mới nói đặng là người đó thấy, thấy sắc đó, thấy bằng con mắt đó. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý.
118.
  • Phản ngữ: Không nên nói rằng Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Người nào nghe ... Người nào ngửi ... Người nào nếm ... Người nào đụng ... Người nào biết, biết cảnh pháp đó, biết bằng tâm đó phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Dù rằng người nào biết, biết cảnh pháp nào, biết bằng tâm nào mới nói đặng là người đó biết, biết cảnh pháp đó bằng tâm đó. Chính do nhân ấy, Ngài mới nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý.
119.
  • Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Người nào chẳng đặng thấy, chẳng đặng thấy sắc nào, chẳng đặng thấy với con mắt nào, không nên nói rằng người đó thấy, không nên nói rằng thấy sắc đó, không nên nói rằng thấy với con mắt đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Dù rằng người nào chẳng đặng thấy, chẳng đặng thấy sắc nào, chẳng đặng thấy bằng con mắt nào, không nên nói rằng người đó thấy, không nên nói rằng thấy sắc đó, không nên nói rằng thấy bằng con mắt đó, cũng không nên nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý.
120.
  • Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Người nào chẳng đặng nghe ... Người nào chẳng đặng ngửi ... Người nào chẳng đặng nếm ... Người nào chẳng đặng đụng ... Người nào chẳng đặng biết, chẳng đặng biết cảnh pháp nào, chẳng đặng biết bằng ý nào, không nên nói rằng người đó biết, không nên nói rằng biết cảnh pháp đó, không nên nói biết bằng ý đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Dù rằng người nào không đặng biết, không đặng biết cảnh pháp nào, không đặng biết với ý nào, không nên nói rằng người đó biết, không nên nói rằng biết cảnh pháp đó, không nên nói rằng biết bằng ý đó, cũng chớ nói rằng tôi nhận thấy người bằng chân thể siêu lý.
121.
  • Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Đức Thế Tôn có phán như vậy: “Này chư Phíc-khú, ta thấy tất cả chúng sanh đang tử, đang sanh hoặc hèn hạ, hoặc cao sang, hoặc có nhan sắc tốt, hoặc có nhan sắc xấu, hoặc thành lạc thú, hoặc thành khổ thú bằng Thiên nhãn trong sạch hơn mắt của nhân loại, vẫn biết rõ tất cả chúng sanh động tác theo nghiệp”, như thế là nghe có thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Nếu thế đó cũng nhận thấy người đặng theo chân thể siêu lý chớ gì?
  • Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng Đức Thế Tôn có phán như vầy: “Này Chư Phíc-khú, ta thấy tất cả chúng sanh đang tử đang sanh, hoặc thấp hèn, hoặc cao sang, hoặc có nhan sắc tốt, hoặc có nhan sắc xấu, hoặc thành lạc thú, hoặc thành khổ thú, thấy bằng Thiên nhãn trong sạch hơn con mắt của nhân loại, vẫn biết rõ tất cả chúng sanh tác động theo nghiệp”, như thế chính do nhân đó, Ngài mới nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
*   Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài thấy sắc hoặc thấy người bằng Thiên nhãn trong sạch hơn con mắt của nhân loại. Phản ngữ: Ngài thấy sắc.

*   Tự ngôn: Sắc là người, sắc tử, sắc sanh, sắc động tác theo nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*   Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài thấy sắc hoặc thấy người bằng Thiên nhãn thanh tịnh hơn mắt của nhân loại. Phản ngữ: Ngài thấy người.

*   Tự ngôn: Người là sắc như Sắc xứ, như là Sắc giới (rūpadhātu), như là sắc xanh, như là sắc vàng, như là sắc đỏ, như là sắc trắng, như là đồ đạc biết với con mắt, chạm đến con mắt, đưa ra đến đường con mắt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*   Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài thấy sắc hoặc thấy người bằng Thiên nhãn thanh tịnh hơn mắt của nhân loại. Phản ngữ: Ngài thấy cả hai thứ.

*   Tự ngôn: Cả hai thứ như là Sắc, như là Sắc xứ, như là Sắc giới; cả hai thứ như là màu xanh, cả hai thứ như là màu vàng, cả hai thứ như là màu đỏ, cả hai thứ như là màu trắng, cả hai thứ như là đồ đạc biết đặng bằng mắt, cả hai thứ chạm nơi nhân, cả hai thứ đưa đến đường lối của mắt, cả hai thứ tử, cả hai thứ sanh, cả hai thứ động tác theo nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Dứt Y chế định cật vấn

---

 

 PHẦN NGHIỆP ĐẶNG KẾ (KĀLYĀṆAVAGGA)

122.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy người làm, người tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

123.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy người làm, người tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người làm, kẻ sáng tạo người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người làm, kẻ sáng tạo người đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm tột nơi khổ, không có sự dứt nơi luân hồi, cũng không có sự viên tịch, cũng không có với các người ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

124.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy người làm, người tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy người như thế mới nhận thấy kẻ làm, kẻ sáng tạo người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

125.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, kẻ sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Níp-bàn như thế mới nhận thấy kẻ làm, kẻ sáng tạo Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

126.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, kẻ sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Đại địa như thế mới nhận thấy kẻ làm, người tạo Đại địa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

127.

*        Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy biển cả như thế mới nhận thấy kẻ làm, kẻ sáng tạo biển cả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

128.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy núi Tu Di như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo núi Tu Di phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

129.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nước như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nước phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

130.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy lửa như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo lửa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

131.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy gió, như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo gió phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

132.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu, như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy cỏ cây và rừng bụi như thế mới nhận thấy kẻ làm người sáng tạo cỏ cây rừng bụi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

133.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu như thế mới nhận thấy kẻ làm, người sáng tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nghiệp tốt, nghiệp xấu là khác, kẻ làm người tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu cũng là khác chớ gì? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

134.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy người hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nhận thấy quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu thế đó mới nhận thấy kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, người là kẻ hưởng quả đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, người là kẻ hưởng quả đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm cho tận khổ không có, sự dứt luân hồi cũng không có, sự viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nhận thấy quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy người, thế đó mới nhận thấy kẻ hưởng là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nhận thấy quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Níp-bàn, như vậy mới nhận thấy người hưởng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nhận thấy quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu, như thế mới nhận thấy người là kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Đại địa, do nhận thấy Đại Hải, do nhận thấy núi Tu Di, do nhận thấy nước, do nhận thấy lửa, do nhận thấy gió, do nhận thấy cỏ, cây, rừng, bụi như thế mới nhận thấy người là kẻ hưởng cỏ cây rừng bụi chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nhận thấy quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu là khác, người là kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

135.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy vui là tiên[1] phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy người là kẻ hưởng vui, đó là tiên phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

136.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy vui là tiên, như thế mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng vui là tiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, người thuộc kẻ hưởng vui là tiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, Ngài thuộc kẻ hưởng vui là tiên đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm cho tột hết khổ không có, sự dứt đứt của luân hồi không có, sự viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

137.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy người vui là tiên, bởi thế nhận thấy người thuộc kẻ hưởng vui là tiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy người như thế mới thấy kẻ hưởng là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

138.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy vui là tiên, như thế mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng vui là tiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Níp-bàn, như thế mới nhận thấy người là kẻ hưởng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

139.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy vui sướng là tiên, như thế mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng vui là tiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Đại địa ... do nhận thấy Đại Hải, do nhận thấy núi Tu Di, do nhận thấy nước, do nhận thấy lửa, do nhận thấy gió ... do nhận thấy cỏ cây rừng bụi như thế mới nhận thấy người là kẻ hưởng cỏ cây rừng bụi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

140.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy an vui là tiên, như thế mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng an vui là tiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: An vui là tiên là khác, người thuộc kẻ hưởng an vui là tiên thì khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

141.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy an vui của nhân loại phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy người thuộc kẻ hưởng an vui của nhân loại phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

142.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy an vui của nhân loại, như thế mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng an vui của nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người thuộc kẻ hưởng an vui của nhân loại đó phải chăng?. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, người thuộc kẻ hưởng an vui của nhân loại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm cho tận nơi khổ không có, sự đoạn luân hồi cũng không có, sự viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

143.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy an vui của nhân loại, thế đó mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng an vui của nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy người, thế đó mới nhận thấy kẻ hưởng là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

144.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy an vui của nhân loại, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng an vui của nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhận thấy Níp-bàn thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

145.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy an vui của nhân loại, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng an vui của nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Đại địa ... do nhận thấy Đại Hải ... do nhận thấy núi Tu Di ... do nhận thấy nước ... do nhận thấy lửa ... do nhận thấy gió ... do nhận thấy cỏ cây rừng bụi, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng cỏ cây rừng bụi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

146.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy an vui của nhân loại thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng an vui của nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: An vui của nhân loại là khác, người thuộc kẻ hưởng an vui của nhân loại cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

147.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy khổ, có trong khổ thú phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy người là kẻ hưởng trong cõi khổ thú phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

148.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ tại trong cõi khổ thú thế đó mới nhận thấy người thuộc kẻ hưởng trong cõi khổ thú phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, người là kẻ hưởng khổ trong khổ thú đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ hưởng, người là kẻ hưởng khổ trong cõi khổ thú đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm tận khổ không có, sự dứt luân hồi cũng không có, đến sự viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

149.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ ở trong cõi khổ thú, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng khổ trong cõi khổ thú phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bởi nhận thấy người thế đó mới nhận thấy kẻ hưởng là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

150.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong khổ thú thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng khổ trong cõi khổ thú phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Níp-bàn thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

151.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong cõi khổ thú, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng khổ trong cõi khổ thú phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Đại địa ... do nhận thấy Đại Hải ... do nhận thấy núi Tu Di ... do nhận thấy nước ... do nhận thấy lửa ... do nhận thấy gió ... do nhận thấy cỏ cây rừng bụi thế đó mới nhận thấy người là kẻ sử dụng cỏ cây và rừng bụi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

152.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong cõi khổ thú, thế đó mới nhận thấy người chịu khổ trong cõi khổ thú phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khổ trong cõi khổ thú là khác, người là kẻ chịu khổ trong cõi khổ thú cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

153.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy khổ trong cõi Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Ngài nhận thấy người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

154.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong Địa ngục thế đó mới nhận thấy người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ chịu là người thuộc kẻ chịu khổ trong Địa ngục đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy kẻ chịu, người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm cho tận khổ không có, sự dứt luân hồi cũng không có, sự viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

155.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong Địa ngục, như thế mới nhận thấy người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy người, thế đó mới nhận thấy kẻ hưởng là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

156.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong Địa ngục, thế đó mới nhận thấy người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Níp-bàn, thế đó mới nhận thấy người là kẻ hưởng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

157.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong Địa ngục, thế đó mới nhận thấy người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy Đại địa. ... do nhận thấy Đại Hải, do nhận thấy núi Tu Di, do nhận thấy nước, do nhận thấy lửa, do nhận thấy gió, do nhận thấy cỏ cây rừng bụi, thế đó mới nhận thấy người là kẻ sử dụng cỏ cây rừng bụi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

158.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy khổ trong Địa ngục, thế đó mới nhận thấy người là kẻ chịu khổ trong Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khổ trong Địa ngục là khác, người thuộc kẻ chịu khổ trong Địa ngục cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

159.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu; thế đó mới nhận thấy người làm kẻ tạo người hưởng quả nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người đó làm, tự người đó hưởng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người đó làm, tự người đó hưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: An vui và khổ sở tự mình làm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

160.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu, thế đó mới nhận thấy kẻ làm người tạo, kẻ hưởng quả nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người khác làm người khác hưởng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người khác làm người khác hưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vui và khổ người khác làm cho phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

161.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu, thế đó mới nhận thấy kẻ làm người sáng tạo, kẻ hưởng quả nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người đó và người khác làm, người đó và người khác hưởng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người đó và người khác làm, người đó và người khác hưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vui và khổ cũng có tự mình làm, cũng có người khác làm cho phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

162.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu, thế đó mới nhận thấy người là kẻ sáng tạo kẻ hưởng quả nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người đó làm cũng chẳng phải, tự người đó hưởng cũng chẳng phải, người khác làm cũng chẳng phải, người khác hưởng cũng chẳng phải ư? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người đó làm cũng chẳng phải, người đó tự hưởng cũng chẳng phải, người khác làm cũng chẳng phải, người khác hưởng cũng chẳng phải ư? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vui và khổ nương thật tướng chẳng phải cách làm của tự mình, chẳng phải cách làm của người khác sanh ra phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

163.

*     Tự ngôn: Do nhận thấy nghiệp tốt, nghiệp xấu thế đó mới nhận thấy người là kẻ làm, kẻ tạo, kẻ hưởng quả của nghiệp tốt, nghiệp xấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người đó làm, tự người đó hưởng; người khác làm thời người khác hưởng; người đó và người khác làm thời người đó và người khác hưởng. Người đó làm cũng chẳng phải, chính người đó hưởng cũng chẳng phải. Người khác làm cũng chẳng phải, người khác hưởng cũng chẳng phải ư? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người đó làm, chính người đó hưởng. Người khác làm thì người khác hưởng. Người đó và người khác làm thời người đó và người khác hưởng. Người đó làm cũng chẳng phải, người đó tự hưởng cũng chẳng phải. Người khác làm cũng chẳng phải, người khác hưởng cũng chẳng phải ư? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vui và khổ tự mình làm, vui và khổ người khác làm cho; vui và khổ tự mình làm và cũng có người làm cho; vui và khổ nương thật tướng chớ chẳng phải cách làm của tự mình, chẳng phải cách làm của người khác mới sanh ra phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

164.

*     Phản ngữ: Nghiệp vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người là kẻ làm nghiệp cũng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nghiệp vẫn có, thế đó người là kẻ làm nghiệp mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Kẻ sáng tạo, người là kẻ làm nghiệp đó cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Kẻ sáng tạo, người là kẻ làm nghiệp đó cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm cho tận khổ không có, sự dứt biệt luân hồi cũng không có, sự viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nghiệp vẫn có, thế đó người là kẻ làm nghiệp mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do người vẫn có, thế đó kẻ tạo nghiệp mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nghiệp cũng có, thế đó người là kẻ tạo nghiệp mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do Níp-bàn vẫn có, thế đó người tạo Níp-bàn cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nghiệp vẫn có, thế đó người là kẻ làm nghiệp quả vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do Đại địa vẫn có ... do Đại Hải vẫn có ... do núi Tu Di vẫn có ... do nước vẫn có ... do lửa vẫn có ... do gió vẫn có ... do cỏ cây rừng bụi vẫn có, thế đó người tạo cỏ cây và rừng bụi mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do nghiệp vẫn có, người là kẻ làm nghiệp mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nghiệp là khác, người thuộc kẻ làm nghiệp cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Dị thục quả vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người là kẻ hưởng quả vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do quả vẫn có, thế đó người là kẻ hưởng quả mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Kẻ hưởng, người là kẻ hưởng quả đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Kẻ hưởng, người là kẻ hưởng quả đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cách làm tận khổ không có, sự dứt luân hồi cũng không có, viên tịch cũng không có với những người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do quả vẫn có, thế đó người là kẻ hưởng quả mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do người vẫn có, thế đó kẻ hưởng là người mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do quả vẫn có, thế đó người là kẻ hưởng quả mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do Níp-bàn vẫn có, thế đó người là kẻ hưởng Níp-bàn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó..

*     Tự ngôn: Do quả vẫn có, thế đó người là kẻ hưởng quả mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Do Đại địa vẫn có ... do đại hải vẫn có ... do núi Tu Di vẫn có ... do nước vẫn có ... do lửa vẫn có ... do gió vẫn có ... do cây rừng bụi vẫn có, thế đó kẻ sử dụng cỏ cây và rừng bụi vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Do quả vẫn có, thế đó người là kẻ hưởng quả mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quả là khác, người thuộc kẻ hưởng quả cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... rút gọn (Saṅkhitta).

Dứt Phần nghiệp đáng kể.

---

  CẬT VẤN THÔNG (ABHIÑÑĀNUYOGA)

165.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Có người hiện thần thông đặng cũng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dù rằng có người hiện thần thông đặng vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Có người nghe tiếng bằng Nhĩ giới như tiên đặng ... biết Tâm của người khác đặng ... nhớ kiếp trước đặng ... thấy sắc bằng con mắt như tiên đặng ... làm cho rõ sự tuyệt lậu đặng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dầu rằng có người làm cho rõ sự dứt tuyệt hết lậu đặng vẫn có, chính do nhân đó Ngài mới nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng cũng có người hiện thần thông đặng vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào hiện thần thông đặng thì chính kẻ đó là người còn kẻ nào hiện thần thông không đặng thì kẻ đó không phải là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người nào nghe tiếng bằng Nhĩ giới như tiên đặng ... kẻ nào biết tâm người khác đặng ... kẻ nào nhớ đời trước đặng ... kẻ nào thấy sắc bằng con mắt như tiên đặng ... kẻ nào làm cho rõ sự hết lậu đặng thì kẻ đó là người; còn kẻ nào làm cho rõ hết lậu không đặng thì kẻ đó không là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Dứt Cật vấn thông (Abhiññānuyoga)

---

 

CẬT VẤN THÂN TỘC (ÑĀTAKĀNUYOGA)

166.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Mẹ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dù rằng mẹ vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cha vẫn có ... anh vẫn có ... chị vẫn có ... vua vẫn có ... phạm chí vẫn có ... thương gia vẫn có ... cận thắng tiện dân vẫn có ... cư sĩ vẫn có ... xuất gia vẫn có ... Chư thiên vẫn có ... Nhân loại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dù rằng nhân loại vẫn có, chính do nhân đó Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

167.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định là mẹ vẫn có và do nhân mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người trước không thành mẹ, sau mới thành mẹ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người vốn trước không thành người, sau mới thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia không thành cha ... không thành anh em, không thành chị em, không thành vua, không thành phạm chí, không thành thương gia, không thành cận thắng tiện dân, không thành cư sĩ, không thành xuất gia, không thành Chư thiên, không thành nhân loại rồi thành nhân loại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người vốn trước kia không thành người rồi sau mới thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

168.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng mẹ vẫn có, và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người vốn trước kia thành mẹ rồi sau không thành mẹ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người vốn trước thành người rồi sau không thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia thành cha, thành anh em, thành chị em, thành vua, thành phạm chí, thành thương gia, thành cận thắng tiện dân, thành cư sĩ, thành xuất gia, thành Chư thiên, thành nhân loại rồi không thành nhân loại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia thành người rồi sau không thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

169.

*     Phản ngữ: Chớ nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người đắc Dự Lưu vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dù rằng người đắc Dự Lưu vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người đắc Nhứt Lai vẫn có ... Người đắc Bất Lai vẫn có ... Người đắc La Hán vẫn có ... Người đắc Ứng cúng giải thoát lưỡng biên (Ubhatobhāgavimutta) vẫn có ... Người đắc Ứng cúng bằng tuệ giải thoát (paññāvimutta) vẫn có ... Người đắc Thánh nhân thân chứng (Kāyakkhī) vẫn có ... Người đắc Thánh nhân kiến chí (diṭṭhapatta) vẫn có ... Người đắc Thánh nhân tín giải hành (Saddhāvimutta) vẫn có ... Người đắc Thánh nhân tùy pháp hành (dhammānusārī) vẫn có, người đắc Thánh nhân tùy tín hành (saddhānusārī) vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: dù rằng người đắc Thánh nhân tùng du đức tin (Saddhānusārī) vẫn có, chính do nhân đó Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

170.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng người đắc Dự Lưu vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia không thành Dự Lưu sau mới thành Dự Lưu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia không thành người, sau thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia không thành Nhứt Lai ... không thành Bất Lai ... không thành La Hán ... không thành Ứng cúng giải thoát lưỡng biên (Ubhatobhāgavimutta) ... không thành Ứng cúng giải thoát bằng tuệ (Paññāvimutta) ... không thành Thánh nhân thân chứng (Kāyasakkhī) ... không thành Thánh nhân kiến chí (Diṭṭhipatta) ... không thành Thánh nhân Tín giải hành (Saddhāvimutta) ... không thành Thánh nhân tùy pháp hành (Dhammānusārī)... không thành Thánh nhân tùy tín hành (Saddhānusārī), rồi mới thành Thánh nhân tùy tín hành vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cũng có người trước kia không thành người, sau thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

171.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng người bực Dự Lưu vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: người trước kia thành Dự Lưu, rồi sau không thành Dự Lưu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: người trước kia thành người rồi sau không thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: người trước kia thành Nhứt Lai ... thành Bất Lai rồi sau không thành Bất Lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: người trước kia thành người rồi sau không thành người vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

172.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng đặng thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thánh nhân bốn đôi, tám chủng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dù rằng thánh nhân bốn đôi, tám chủng vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

173.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng thánh nhân bốn đôi, tám chủng vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thánh nhân bốn đôi, tám chủng phát hiện ra đặng do sự phát hiện của Phật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người phát hiện đặng do sự phát hiện của Phật phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người phát hiện ra đặng do sự phát hiện của Phật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sau khi Đức Thế Tôn viên tịch, người tiêu diệt, vẫn không có người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

174.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người phi hữu vi phi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người phi hữu vi phi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Còn phần chót thứ ba, ngoài ra hữu vi và vô vi nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Còn phần chót thứ ba ngoài ra hữu vi và vô vi nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, giới (Dhātu) này có hai thứ. Hai thứ đó ra sao? Một là giới hữu vi, hai là giới vô vi đó thôi. Hai thứ giới như thế chắc thật vẫn có nghe phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng: “Còn phần chót thứ ba, ngoài ra hữu vi và vô vi nữa chớ gì?

*     Tự ngôn: Người là phi hữu vi phi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hữu vi là khác, vô vi cũng là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Tất cả uẩn là hữu vi, Níp-bàn là vô vi, người là phi hữu vi phi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tất cả uẩn là khác, Níp-bàn là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sắc là hữu vi, Níp-bàn là vô vi, còn người phi hữu vi phi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc là khác, Níp-bàn là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức là hữu vi, Níp-bàn là vô vi, còn người là phi hữu vi phi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức là khác, Níp-bàn là khác, người cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

175.

*     Tự ngôn: Người có sự sanh ra hiện bày, có sự tiêu tàn rõ rệt, khi đang trụ có sự thay đổi hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, pháp hữu vi có ba tướng (Lakkhaṇa) hữu vi thế này tức là tất cả pháp hữu vi có sự sanh ra rõ rệt, có sự hư hoại rõ rệt, đang khi còn có sự thay đổi rõ rệt”. Như thế người cũng có sự sanh ra hiện bày, sự hư hoại cũng rõ rệt, đang khi đình trụ có sự đổi thay cũng rõ rệt. Như thế đó thì người cũng là hữu vi chớ gì?

*     Tự ngôn: Sự sanh ra của người không hiện bày, sự hư hoại của người không hiện bày, đang khi còn có sự thay đổi cũng không hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, pháp vô vi có trạng thái vô vi ba cách như vầy: sự sanh ra của tất cả pháp vô vi không hiện bày, sự hoại hư không hiện bày, khi đình trụ sự thay đổi không hiện bày”. Như thế thì sự phát sanh của người cũng không hiện bày, sự hư hao cũng không hiện bày, khi đình trụ sự đổi thay cũng không hiện bày. Nếu thế đó thì người cũng là vô vi chớ gì?

176.

*     Tự ngôn: Bực đã viên tịch vẫn còn có trong Níp-bàn, hay là không có trong Níp-bàn? Phản ngữ: Vẫn còn có trong Níp-bàn.

*     Tự ngôn: Bực viên tịch là người trường tồn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Bực đã viên tịch không có trong Níp-bàn.

*     Tự ngôn: Bực đã viên tịch là người diệt mất phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Dứt Cật vấn thân tộc (Ñātakānuyoga)

---

 

PHẦN LINH TINH (PAKIṆṆAKA)

177.

*     Tự ngôn: Người nương chi mà vững còn? Phản ngữ: Nương hữu (Bhāva) mà vững còn.

*     Tự ngôn: Hữu không bền thành hữu vi nương duyên sanh ra, có sự phải mất đi, phải hư hoại, phải rã tan, phải diệt đi, phải đổi thay phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tuy nhiên người cũng không bền, thuộc hữu vi, nương duyên sanh ra phải có sự mất, phải hư hoại, phải rã tan, phải diệt đi phải biến đổi theo lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dĩ nhiên người cũng không bền, thuộc hữu vi nương duyên sanh ra, vẫn phải có sự mất, phải hư hoại, phải rã tan, phải diệt đi, phải đổi thay theo lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

178.

*     Phản ngữ: Chớ nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Có người đang hưởng vui sướng, cũng biết rõ rằng ta đang hưởng vui sướng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Dù rằng có người đang hưởng vui sướng cũng biết rõ rằng ta đang hưởng vui sướng vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Có người đang hưởng đau khổ cũng biết rõ rằng ta đang hưởng đau khổ ... đang hưởng phi khổ phi lạc cũng biết rõ ta đang hưởng phi khổ phi lạc vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: dù rằng có người đang hưởng phi khổ phi lạc cũng biết rõ ta đang hưởng phi khổ phi lạc vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng có người đang hưởng vui sướng cũng biết rõ ta đang hưởng vui sướng vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào đang hưởng vui sướng cũng biết rõ ta đang hưởng vui sướng thì chính người đó là người. Còn người nào đang hưởng vui sướng mà không biết ta đang hưởng vui sướng thì người ấy không phải là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người nào đang hưởng đau khổ ... Người nào đang hưởng phi khổ phi lạc cũng biết rõ ta đang hưởng phi khổ phi lạc thì chính người đó là người. Còn người nào đang hưởng phi khổ phi lạc mà không biết rõ ta đang hưởng phi khổ phi lạc thì người ấy chẳng phải là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng có người đang hưởng vui sướng cũng biết rõ ta đang hưởng vui sướng vẫn có, và do nhân đó mới nói nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Lạc thọ là khác, người đang hưởng lạc thọ cũng biết rõ ta đang hưởng lạc thọ cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Khổ thọ là khác ... phi khổ phi lạc thọ là khác; người đang hưởng phi khổ phi lạc thọ mà biết rõ ta đang hưởng phi khổ phi lạc thọ cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

179.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Có người đang quan sát thấy Thân trong Thân vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: dù rằng có người quán tưởng thấy Thân trong Thân vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Có người đang quán sát thấy Thọ trong Thọ ... đang quán sát thấy tâm trong tâm ... đang quán sát thấy pháp trong pháp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: dù rằng có người quán sát thấy pháp trong pháp vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

*     Tự ngôn: Ngài đã nhứt định rằng có người quán sát thấy Thân trong Thân vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào quán sát thấy Thân trong Thân thì ngươi đó là người, còn người nào không quán sát thấy Thân trong Thân thì người ấy không phải là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người nào quán sát thấy Thọ trong Thọ ... Người nào quán sát thấy tâm trong tâm ... Người nào quán sát thấy pháp trong pháp thì chính người đó là người. Còn người nào không quán sát thấy pháp trong pháp thời người đó không phải là người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài đã xác định rằng có người là bực đang quán sát thấy Thân trong Thân vẫn có và do nhân đó mới nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân là khác, người quán tưởng thấy Thân trong Thân cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*        Tự ngôn: Thọ là khác ... tâm là khác ... pháp là khác. Người mà quán sát đang thấy pháp trong pháp cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

180.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn phán rằng: “Này Không Vương (Nogaraja) người nên thành người hằng có chánh niệm, nhận thấy sự vật bằng lối tiêu diệt, (nhổ) bỏ kiến thức ngã chấp, ngươi nên phải là người lướt khỏi Diêm Vương, ngươi phải là người cho đặng bằng với thái độ ấy. Bởi vì Diêm Vương không ngó thấy những người đang nhận thấy đời như vậy”. Vẫn có nghe thật như thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì?

181.

*     Tự ngôn: Người nhận thấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chung với sắc mà nhận thấy hay là trừ ra sắc mới nhận thấy. Phản ngữ: Chung với Sắc mới nhận thấy.

*     Tự ngôn: Linh hồn là đó, thân xác cũng là đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Trừ ra sắc mới nhận thấy.

*     Tự ngôn: Linh hồn là khác, thân xác cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người nhận thấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ở phía trong mới nhận thấy, hay là ra phía ngoài rồi mới nhận thấy. Phản ngữ: Ở phía trong mới nhận thấy.

*     Tự ngôn: Linh hồn cũng cái đó, thân xác cũng cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ra phía ngoài rồi mới nhận thấy.

*     Tự ngôn: Linh hồn là khác, thể xác cũng là khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

182.

*     Phản ngữ: chớ nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn thường phán lời chắc chắn, phán đúng thời, đúng việc chân thật, nói đúng đắn không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bực người hành để tự liên quan vẫn có”, Thế vậy có nghe chắc thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì?

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn có thường phán lời chắc chắn, phán lời hợp thời hợp việc chân thật, nói đúng đắn không sai chạy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, chỉ có 1 hạng người ra đời sanh ra để liên quan với nhiều người đặng an vui cho nhiều người, để tế độ cho đời hầu lợi ích đặng liên quan đến sự vui cho tất cả Chư thiên và nhân loại”, thế vậy có nghe chắc thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó cũng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì!

183.

*     Tự ngôn: Nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có thường phán lời chắc chắn, phán thích hợp thời, phán chuyện chân thật, Ngài nói đúng đắn không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Tất cả pháp là vô ngã”, như vậy có nghe chắc thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì.

184.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn thường phán lời chắc chắn, phán thích hợp thời, phán công chuyện chắc thật, nói đúng đắn không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn ngài có phán rằng: “Thánh Tăng không Hoài nghi, không nghi hoặc rằng khi sanh những khổ đã sanh lên, khi diệt những khổ đó diệt mất. Trong điều này Thánh Tăng tự nhận rõ quyết khỏi cần nhờ người khác; những thế vậy Đức Ca Chiên Diên (Kaccāna) mới thành Chánh kiến”, như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì!

185.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Phíc-khú Ni Điện Quang (Vajirā) nói với Mara (Māra) rằng: Này Mara (Māra) Ngài gọi là chúng sanh phải chăng ư? Đó là sự nhận thấy của Ngài phải chăng? Đây chỉ là khối hành vi, mà trong hành vi này không có chi là chúng sanh, do gom phần chung lại mới đặng gọi là xe, thế nào thì thân Ngũ uẩn đang còn chế định gọi là chúng sanh cũng như thế ấy. Chớ kỳ thật chỉ có khổ sanh ra, tạm đình trụ rồi liền diệt mất, ngoài ra không có chi sanh cũng không có chi khác diệt. Đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý.

186.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức A Nan Đa bạch hỏi Thế Tôn rằng: “Đức Thế Tôn, Ngài nói thế giới tiêu hoại, mà thế giới tiêu hoại vậy chớ do nhân chi mà thế giới tiêu hoại?” Đức Phật Ngài phán rằng “Này A Nan Đa, tự nó hoặc tại có thứ liên quan với nó, như thế mới đặng nói là thế giới hoại; thế này A Nan Đa, tự nó hay tự thứ liên quan với nó. Nhãn tự tiêu hoại hoặc do thứ liên quan tiêu hoại, sắc tiêu hoại ... Nhãn thức tiêu hoại ... Nhãn xúc tiêu hoại ... Bởi do Nhãn xúc làm duyên phát sanh ra sự biết hưởng cảnh hoặc Sướng, hoặc Khổ, hoặc Phi Khổ Phi Lạc; cái nào thì cái ấy tiêu diệt hoặc thứ liên quan với nó. Nhĩ tiêu hoại ... Thinh tiêu hoại ... Tỷ tiêu hoại ... Khí tiêu hoại ... Thiệt tiêu hoại ... Vị tiêu hoại ... Thân tiêu hoại ... Ý tiêu hoại ... Pháp tiêu hoại ... Ý thức tiêu hoại ... Ý xúc tiêu hoại ... Bởi do Ý xúc làm duyên phát sanh ra sự biết hưởng cảnh sướng hoặc khổ, hoặc phi khổ phi lạc; cái nào thì cái ấy tiêu diệt hoặc thứ liên quan với nó. Này A Nan Đa tiêu diệt tự nó hoặc do cái khác liên quan, như thế mới gọi là đời tiêu diệt”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì?

187.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn phán lời chắc, phán hợp thời, phán công chuyện thật, thuyết đúng đắn không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này Chư Phíc-khú, khi ta đang còn đáng có lời nói như vậy: “Của mà liên quan với ta là của ta phải chăng?” Chư Phíc-khú bạch rằng: “Dạ phải như thế đó”. Đức Phật phán rằng: “khi của mà liên quan với ta dù đang còn phải có lời nói như vầy ta là của ta phải chăng?”. Đáp rằng: “Dạ phải như thế đó”. Phật phán rằng: “Này Chư Phíc-khú, ta và luôn của liên quan với ta, sẽ nhận thấy không đặng bằng sự thành của thật, bằng sự thành của Chắc, nhân sở y của kiến thức như vầy thế giới cũng là cái đó, ta cũng là cái đó. Sau khi chết ta sẽ thành người khác lâu dài, vững chắc, cố nhiên không thay đổi, sẽ đình trụ thế đó quyết một chỗ luôn luôn, như thế cũng là pháp tiểu nhân đầy đủ hoàn toàn phải chăng?”. Bạch lại rằng: “Dạ chẳng phải thành chi chi khác, dạ đó là pháp của tiểu nhân, đầy đủ hết”. Như thế là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì!

188.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn thường có phán lời thật, phán công chuyện có thật, nói đúng đắn, nói không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này Giáo trưởng, Tam chủng Giáo chủ đây vẫn hiện trong đời. Tam chủng Giáo chủ ra sao? Cũng có Giáo chủ trong đời này chế định ngã là đồ chơn thật chắc chắn cả đời này và đời sau. Một nửa, cũng có Giáo chủ trong đời này chế định ngã là đồ chơn thật chắc chắn chỉ trong đời hiện tại không chế định như thế trong đời sau. Một nửa, cũng có Giáo chủ trong đời này không chế định ngã là đồ chơn thật chắc chắn luôn trong đời này và cả đời trong đời sau. Trong Tam chủng Giáo chủ đó mà Giáo chủ chế định ngã là đồ chơn thật chắc chắn cả trong đời này luôn đến trong đời sau, thế gọi là thường kiến. Vị Giáo chủ chế định ngã là đồ chân thật chắc chắn chỉ trong đời này, chớ không chế định thế đó trong đời sau, như vậy gọi là đoạn kiến. Còn bực Giáo chủ mà không chế định ngã là đồ chơn thật chắc chắn cả trong đời này luôn đến đời sau, như thế gọi là Phật Toàn Giác. Này Trưởng giáo, chính là Tam chủng Giáo chủ như đây vẫn có đang hiện trong đời”. Như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì!

189.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn thường có phán lời chắc, phán hợp thời, phán công chuyện có thật, nói đúng đắn, nói không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn phán rằng: “Nồi đề hồ phải chăng?” Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ai ai làm nồi vẫn có đề hồ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì?

190.

*     Tự ngôn: Ngài nhận thấy người bằng chân thể siêu lý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn thường phán lời chắc, phán hợp thời, phán chuyện có thật, nói đúng đắn, nói không sai chạy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài phán rằng: “Nồi dầu ... nồi mật ... nồi nước mía ... nồi sửa ... nồi nước ... mâm nước uống ... bình nước uống ... ca nước uống ... bát cơm ... và nồi cháo bổ phải chăng?” Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: thứ cháo bổ là đồ trường tồn vĩnh viễn, bền chắc, dĩ nhiên không thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nếu thế vậy cũng không nên nói rằng nhận thấy người đặng bằng chân thể siêu lý chớ gì?

Dứt Phần Nhân ngữ (Puggalakathā)

---

Nếu tập này, vị nào học hay nghiên cứu mà nhận hiểu chưa đặng, xin yêu cầu học và nghiên cứu khởi phần Pháp Tụ Xiển Minh luôn hiểu rồi 4 bộ trước mới có thể dễ nhận hiểu Bộ Ngữ Tông thuộc về bộ thứ 5 này. Rồi các phần sau sẽ thành ra không khó. Hay là quý vị học hoặc nghiên cứu thứ tự theo 3 lớp học siêu lý nhớ kỷ theo bảng nêu tiếp tục xem vào Chánh tạng Diệu Pháp.

---

 

HOẠI LÌA NGỮ (Ỷ HƯ NGỮ) (PARIHANIKATHA)

191.

*     Tự ngôn: (Sakavādī) La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: (Paravādī): Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán trong tất cả hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: La Hán hoại lìa quả La Hán trong tất cả hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhân hoại của La Hán trong tất cả hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán trong mỗi thời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhân hoại của La Hán trong mỗi thời phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán chính mỗi vị hoại lìa (ỷ hư) La Hán quả đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán chính mỗi vị hoại lìa La Hán quả đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhân hoại của bực La Hán có đặng mỗi vị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

192.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa (Parihāyati) La Hán quả đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán khi hoại lìa La Hán quả vẫn hoại lìa cả bốn quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Phú Trưởng Giả vẫn duy trì chức Phú Trưởng Giả bằng bốn ức tài vật, nếu khi hết một ức tài vật thì hoại lìa chức vị phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vẫn hoại lìa tài sản tất cả phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Phú Trưởng Giả vẫn duy trì chức Phú Trưởng Giả bằng bốn ức tài vật, nếu hết một ức tài vật thì thành người đáng sẽ hoại lìa tài vật tất cả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán nếu khi hoại lìa quả La Hán thời thành người đáng sẽ hoại lìa cả 4 quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

193.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhập Lưu hoại lìa quả Nhập Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

194.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa (ỷ hư) quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

195.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa (ỷ hư) quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi... .

*     Tự ngôn: Bực Nhập Lưu hoại lìa quả Nhập Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

196.

*     Tự ngôn: Bực Nhập Lưu vẫn không hoại lìa (ỷ hư) quả Nhập Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai vẫn không hoại lìa (ỷ hư) quả Nhất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán vẫn không hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

197.

*     Tự ngôn: Bực Nhập Lưu vẫn không hoại lìa (ỷ hư) quả Nhập Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

198.

*     Tự ngôn: Bực Nhập Lưu vẫn không hoại lìa quả Nhập Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

199.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán khi hoại lìa quả La Hán thời nương tựa pháp chi? Phản ngữ: Trong quả Bất Lai.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai khi hoại lìa quả Bất Lai thì nương tựa pháp chi? Phản ngữ: Trong quả Nhứt Lai.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai khi hoại lìa quả Nhứt Lai thời nương tựa trong pháp chi? Phản ngữ: Trong quả Dự Lưu.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu khi hoại lìa quả Dự Lưu thời nương tựa địa vị phàm phu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (Nigaha) dù rằng bực La Hán khi hoại lìa quả La Hán nương tựa trong quả Bất Lai. Bực Bất Lai khi hoại lìa quả Bất Lai thời nương tựa quả Nhứt Lai. Bực Nhứt Lai khi hoại lìa quả Nhứt Lai thời nương tựa Quả Dự Lưu; Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Bực Nhập Lưu khi hoại lìa quả Nhập Lưu thời nương tựa địa vị phàm phu.

200.

*     Tự ngôn: Bực La Hán khi hoại lìa quả La Hán thời nương tựa Quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tách lìa quả Dự Lưu Ngài cũng làm cho tỏ ngộ La Hán quả nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán và bực Dự Lưu, ai trừ phiền não nhiều hơn? Phản ngữ: Bực La Hán.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực La Hán trừ phiền não nhiều hơn và hoại lìa quả La Hán đặng; chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

201.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán và bực Nhứt Lai, ai trừ phiền não nhiều hơn? Phản ngữ: Bực La Hán.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực La Hán trừ phiền não nhiều hơn và hoại lìa quả La Hán đặng, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng.

202.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán hay Bực Bất Lai, ai trừ phiền não nhiều hơn? Phản ngữ: Bực La Hán.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực La Hán trừ phiền não đặng nhiều hơn và hoại lìa quả La Hán đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng.

203.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai và bực Dự Lưu, ai trừ phiền não nhiều hơn? Phản ngữ: Bực Bất Lai.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực Bất Lai trừ phiền não đặng nhiều hơn và hoại lìa quả Bất Lai đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói là bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

204.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa (ỷ hư) quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai và bực Nhứt Lai, ai trừ phiền não nhiều hơn? Phản ngữ: Bực Bất Lai.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực Bất Lai trừ phiền não nhiều hơn và hoại lìa quả Bất Lai đặng. Do nhân đó mới nói rằng bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng.

205.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa (ỷ hư) quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai và bực Dự Lưu, ai trừ phiền não nhiều hơn? Phản ngữ: Bực Nhứt Lai.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực Nhứt Lai trừ phiền não nhiều hơn và hoại lìa quả Nhứt Lai đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

206.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đạo tu tiến của bực La Hán và bực Dự Lưu, ai cao thượng? Phản ngữ: Bực La Hán.

*     Tự ngôn: Dù rằng Đạo tu tiến của bực La Hán cao thượng hơn và hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

207.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Tu (Tứ) Niệm xứ ... Tu (Tứ) Chánh cần ... Tu (Tứ) Như ý túc ... Tu (Ngũ) Quyền ... Tu (Ngũ) Lực ... Tu (Thất) Giác chi của bực La Hán và bực Dự Lưu, ai cao thượng hơn? Tự ngôn: Bực La Hán.

*     Tự ngôn: Nếu mà Tu (Thất) Giác chi của bực La Hán cao thượng hơn và bực La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

208.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa (ỷ hư) quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đạo tu tiến ... Giác chi tu tiến của bực La Hán và bực Nhứt Lai, ai cao thượng hơn? Phản ngữ: của bực La Hán.

*     Tự ngôn: Nếu mà Giác chi tu tiến của La Hán cao thượng hơn và bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng, chính do nhân đó, Ngài nên nói rằng bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng.

209.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đạo tu tiến ... Giác chi tu tiến của bực La Hán và bực Bất Lai, ai cao thượng hơn? Phản ngữ: của bực La Hán.

*     Tự ngôn: Nếu mà Giác chi tu tiến của bực La Hán cao thượng hơn và bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng.

210.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đạo tu tiến ... Giác chi tu tiến của bực Bất Lai và bực Dự Lưu, ai cao thượng hơn? Phản ngữ: của bực Bất Lai.

*     Tự ngôn: Nếu mà Giác chi tu tiến của bực Bất Lai cao thượng hơn và bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

211.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đạo tu tiến ... Giác chi tu tiến của bực Bất Lai hay Bực Nhứt Lai ai cao siêu hơn? Phản ngữ: Bực Bất Lai.

*     Tự ngôn: Nếu mà Giác chi tu tiến của bực Bất Lai cao siêu hơn và bực Bất Lai hoại lìa quả Bất Lai đặng, chính do nhân đó, Ngài nên nói rằng bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng.

212.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai hoại lìa (ỷ hư) quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đạo tu tiến ... Giác chi tu tiến của bực Nhứt Lai hay Bực Dự Lưu, ai cao siêu hơn. Phản ngữ: của bực Nhứt Lai.

*     Tự ngôn: Nếu mà Giác chi tu tiến của bực Nhứt Lai cao siêu hơn và bực Nhứt Lai hoại lìa quả Nhứt Lai đặng, chính do nhân đó Ngài nên nói rằng bực Dự Lưu hoại lìa quả Dự Lưu đặng.

213.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Khổ rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Khổ rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tập rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Tập rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Diệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Diệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Đạo rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Đạo rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

214.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tập rồi ... thấy Diệt rồi ... thấy Đạo rồi ... thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

215.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tập rồi ... thấy Diệt rồi ... thấy Đạo rồi ... thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Tứ đế rồi Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

216.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Tập rồi ... thấy Diệt rồi ... thấy Đạo rồi ... thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Tứ đế rồi Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Tập rồi ... thấy Diệt rồi ... thấy Đạo rồi ... thấy Tứ đế rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Tứ đế rồi Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

217.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Khổ rồi Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Khổ rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Tập rồi ... thấy Diệt rồi ... thấy Đạo rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Tứ đế rồi Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

218.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Khổ rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Khổ rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Tập rồi ... thấy Diệt rồi ... thấy Đạo rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

219.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

220.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

221.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

222.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

223.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thấy Khổ rồi ... thấy Tứ đế rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

224.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Giới cấm thủ tuyệt rồi ... trừ dục mà làm nhân đưa đến khổ thú cũng tuyệt rồi ... trừ Sân mà làm nhân đi đến khổ thú cũng tuyệt rồi ... trừ Si mà làm nhân đi đến khổ thú cũng tuyệt rồi thời Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Sân tuyệt rồi ... trừ Si tuyệt rồi ... trừ Ngã mạn tuyệt rồi ... trừ Tà kiến tuyệt rồi ... trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Hôn trầm tuyệt rồi ... trừ Phóng dật tuyệt rồi ... trừ Vô tàm tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Vô úy tuyệt rồi Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Giới cấm thủ tuyệt rồi ... trừ Ái dục mà làm nhân đi đường khổ thú tuyệt rồi, trừ Si mà làm nhân đi khổ thú cũng tuyệt rồi thời Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

225.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Giới cấm thủ tuyệt rồi ... trừ Ái dục thứ thô cũng tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô cũng tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Sân tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô cũng tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

226.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Giới cấm thủ tuyệt rồi ... trừ Dục ái (kāmarāga) thứ vi tế tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế tuyệt rồi Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Sân tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi Ngài hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế tuyệt rồi Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

227.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Si mà làm nhân đi khổ thú tuyệt rồi Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Si mà làm nhân đi khổ thú tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

228.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Giới cấm thủ tuyệt rồi ... trừ nhục dục (kāmarāga) thứ thô tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Bất Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

229.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Si mà làm nhân đi khổ thú cũng tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ nhục dục (kāmarāga) thứ thô tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Nhứt Lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, trừ Si mà làm nhân đi khổ thú tuyệt rồi, Ngài hoại lìa quả Dự Lưu đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

230.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Sân tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Si mà làm nhân đi khổ thú tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái dục tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi Ngài vẫn hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

231.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái (rāga) tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi...

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ dục tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

232.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái (rāga) tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế đã tuyệt, Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán trừ Ái (rāga) tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

233.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi, Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến đã tuyệt rồi ... trừ Sân thứ vi tế đã tuyệt, Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Si mà làm nhân đi khổ thú tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa (ỷ hư) quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc vi tế đã tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

234.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế đã tuyệt, Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Hoài nghi tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô đã tuyệt, Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ vi tế đã tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

235.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Thân kiến tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu trừ Hoài nghi đã tuyệt ... trừ Si mà làm nhân đi khổ thú tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai trừ Thân kiến tuyệt rồi ... trừ Sân độc thứ thô tuyệt rồi Ngài vẫn không hoại lìa quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

236.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ái dục mà bực La Hán trừ tuyệt rồi, nhổ tận gốc lên rồi làm cho thành như cây thốt nốt cùn luôn, làm cho sau này không sanh đặng, làm cho có cái không sanh nữa đã thành lẽ dĩ nhiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu là Ái (rāga) của bực La Hán trừ tuyệt rồi, đã nhổ gốc làm cho thành như cây thốt nốt vót luôn, làm cho có cách sau này không sanh đã thành lẽ thường, thời không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

237.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sân mà bực La Hán trừ tuyệt rồi. Si ... Ngã mạn ... Tà kiến ... Hoài nghi ... Hôn trầm ... Phóng dật ... Vô tàm ... và Vô úy mà bực La Hán trừ tuyệt rồi, đã nhổ gốc lên làm cho thành như cây thốt nốt đứt ngọn, làm cho không sanh đặng sau này, làm cho có cách sau này không sanh nữa, đã thành lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà Vô tàm của bực La Hán đã tuyệt, nhổ gốc rồi làm cho thành như cây thốt nốt đứt ngọn, làm cho sau này không sanh lên đặng, làm cho có cách sau này không sanh nữa, đã thành lẽ dĩ nhiên thời không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

238.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt những Ái dục, La Hán còn đạo cho sanh lên rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà khi trừ Ái dục, La Hán còn đạo đã sanh ra thời không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

239.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt Ái dục, bực La Hán đã cho Tứ niệm xứ sanh ra ... đã cho Tứ chánh cần sanh ra ... đã cho Tứ như ý túc sanh ra ... đã cho Ngũ quyền sanh ra ... đã cho Ngũ lực sanh ra, đã cho Thất giác chi sanh ra phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù cho trừ tuyệt Ái dục mà vị La Hán đã cho Thất giác chi sanh ra thời cũng không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

240.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt Sân, khi trừ tuyệt Vô úy, vị La Hán cho quả sanh ra ... đã cho Thất giác chi sanh ra phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù cho trừ tuyệt Vô tàm mà vị La Hán đã cho Thất giác chi sanh ra thời cũng không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

241.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán thành bực đã xa lìa Tham ái, Sân, Si; đã xong việc đáng làm, rồi trách nhiệm, đã đắc chứng tự lợi, đồ cột gịch trong hữu (bhāva) đứt hết hoàn toàn rồi, đã giải thoát đặc biệt bởi biết đúng chốt then đã nhổ lên rồi, mương rãnh đều đã lấp, sào huy lệ (vẫy nước mắt) nhổ lên rồi, thành người không có then chốt, nên bực thánh, hạ cờ ngã mạn, bỏ gánh nặng rồi, đã hết đồ ràng buộc, đã có thắng lợi tốt quý đặc biệt, Ngài chăm chú biết khổ rồi đã trừ tập đế, đặng rõ diệt đế, còn làm cho đạo đã đặng phát sanh, đã rất biết pháp đáng biết, đã chăm chú biết pháp nơi đáng chăm chú biết, trừ pháp đáng đã trừ rồi, trau dồi pháp đáng trau dồi, đã làm cho rõ thấu pháp rõ thấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù rằng La Hán thành bực đã xa lìa Ái dục, Tham, Sân, Si ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt thời chớ nên nói bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

242.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: La Hán bực giải thoát hợp thời kỳ hoại lìa quả La Hán đặng. La Hán bực giải thoát phi thời vẫn không hoại lìa quả La Hán.

*     Tự ngôn: La Hán bực giải thoát hợp thời hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán bực giải thoát phi thời hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: La Hán bực giải thoát phi thời không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán bực giải thoát hợp thời vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

243.

*     Tự ngôn: La Hán bực giải thoát hợp thời trừ Ái (rāga) tuyệt rồi. La Hán bực giải thoát hợp thời hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán bực giải thoát hợp thời trừ Ái dục (rāga) tuyệt rồi. La Hán bực phi thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: La Hán bực thời giải thoát trừ Sân tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi. La Hán bực thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán bực phi thời giải thoát trừ Sân tuyệt rồi ... trừ Vô úy tuyệt rồi, La Hán bực phi thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt Ái dục rồi bực La Hán là người thời giải thoát đã đặng làm cho đạo phát sanh, La Hán bực giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt những Ái dục (rāga) La Hán bực phi thời giải thoát đã làm cho đạo sanh ra, thì La Hán bực phi thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt những Ái dục thành La Hán bực thời giải thoát, đã còn làm cho (Tứ) Niệm xứ phát sanh ... đã còn làm cho Tứ chánh cần phát sanh, đã còn làm cho Tứ như ý túc sanh ra, đã còn làm cho Ngũ quyền sanh ra ... đã còn làm cho Ngũ lực sanh ra ... đã còn làm cho Thất giác chi sanh ra, La Hán bực thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt những Ái dục (rāga) La Hán bực phi thời giải thoát đã còn làm cho Niệm xứ sanh ra ... đã còn làm cho Giác chi sanh ra ... La Hán bực phi thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt những Sân ... khi trừ tuyệt những Vô úy ... vị La Hán bực thời giải thoát đã còn làm cho đạo sanh ra ... đã còn làm cho Giác chi sanh ra, vị La Hán bực thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt những Vô úy, vị La Hán bực phi thời giải thoát đã còn làm cho đạo sanh ra ... đã còn làm cho Giác chi sanh ra, vị La Hán bực phi thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

244.

*     Tự ngôn: vị La Hán bực thời giải thoát địa vị đã xa lìa Ái dục, Sân, Si, đã làm xong việc đáng làm, rồi trách nhiệm, đắc chứng tự lợi, xong rồi cơ quan ràng buộc trong hữu (bhāva), đã hoàn toàn dứt hết, giải thoát đặc biệt rồi do hiểu biết đúng đắn, then chốt đã gở rồi, nương rãnh đã lấp, sào huy lệ (vẩy nước mắt) nhổ lên rồi, thành người không có then chốt, nên bực Thánh hạ cờ Ngã mạn, bỏ gánh nặng rồi, đã hết đồ ràng buộc, đã có thắng lợi tốt quý đặc biệt. Ngài chăm chú biết Khổ rồi, đã trừ Tập, hành đặng rõ Níp-bàn, Đạo đã đặng phát sanh, đã rất biết pháp đáng biết, đã chăm chú biết pháp nơi đáng chăm chú biết, đã trừ pháp đáng rõ thấu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: vị La Hán bực phi thời giải thoát là người đã xa lìa Tham ái, Sân, Si ... đã làm cho tỏ ngộ pháp đáng tỏ ngộ, vị La Hán bực phi thời giải thoát hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

245.

*     Tự ngôn: vị La Hán bực phi thời giải thoát đã trừ tuyệt Ái dục, La Hán bực phi thời giải thoát không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: vị La Hán bực thời giải thoát đã trừ tuyệt Ái dục, vị La Hán bực thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: vị La Hán bực phi thời giải thoát đã trừ tuyệt Sân ... đã trừ tuyệt Vô úy, vị La Hán bực phi thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: vị La Hán bực thời giải thoát đã trừ tuyệt Vô úy, vị La Hán bực thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Khi trừ tuyệt Ái dục, vị La Hán bực phi thời giải thoát đã còn làm cho đạo sanh ra ... Giác chi sanh ra thì vị La Hán bực phi thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hầu trừ tuyệt Ái dục, vị La Hán bực thời giải thoát đã còn làm cho đạo sanh ra ... đã còn làm cho giác chi sanh ra, vị La Hán bực thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Để trừ tuyệt Sân ... hầu trừ tuyệt Vô úy, vị La Hán bực phi thời giải thoát đã còn làm cho đạo sanh ra ... đã còn làm cho Giác chi sanh ra, vị La Hán bực phi thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hầu trừ tuyệt Vô tàm, vị La Hán bực thời giải thoát đã còn làm cho đạo sanh ra ... đã còn làm cho Giác chi sanh ra, vị La Hán bực thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: vị La Hán bực phi thời giải thoát người đã xa lìa Ái dục, Sân, Si ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt, vị La Hán bực phi thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: vị La Hán bực thời giải thoát thành người đã xa lìa Ái dục, Sân, Si ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt, vị La Hán bực thời giải thoát vẫn không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

246.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Xá-Lợi-Phất Trưởng lão đã hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đức Mục Kiền Liên Trưởng lão ... Đức Đại Ca Diếp Trưởng lão ... Đức Đại Ca Chiên Diên Trưởng lão ... Đức Đại Cu Si La Li Trưởng lão ... Đức Đại Li Bàn Đa Trưởng lão đã hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đức Mục Kiền Liên Trưởng lão không hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà Đức Xá Lợi Phất Trưởng lão không hoại lìa quả La Hán thì chớ nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

*     Tự ngôn: Đức Đại Mục Kiền Liên Trưởng lão ... Đức Đại Ca-Diếp Trưởng lão ... Đức Ma Ha Ca Chiên Diên Trưởng lão ... Đức Ma Ha Ku Si Trưởng lão ... Đức Ma Ha Ly Bàn Đa Trưởng lão không có hoại lìa quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà Đức Đại Mục Kiền Liên Trưởng lão ... Đức Ly Bàn Đa Trưởng lão không hoại lìa quả La Hán thời chớ nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

247.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Tiến hành mà Đức Đại Sa Môn đã bố cáo phải có cao và thấp, nhưng người hành đi đến bờ chẳng phải đặng hai lần; bờ bên này mà người tiến hành sẽ đặng biết nhưng chẳng phải một lần”. Thế là vẫn có nghe chắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó, cũng không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng chớ gì.

248.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Những phiền não luân hồi mà bực La Hán đã cắt đứt cũng còn thứ nào sẽ cắt đứt nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Những phiền não luân hồi mà La Hán đã cắt có thứ cũng còn sẽ cần cắt nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bực đã thành tựu việc đáng làm, người xa lìa Ái, không còn phiền não chấp trước. Những phiền não luân hồi mà Ngài đã cắt không còn cái nào, mà sẽ cắt nữa. Ngài đã rút khỏi hồ nước và vòng xích rồi”. Như đây là vẫn có nghe chắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó, thời không nên nói rằng những phiền não luân hồi mà La Hán đã cắt cũng còn có thứ sẽ cắt nữa chớ gì?

249.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Việc làm cần phải trở lại tạo nữa còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Việc đã làm cần trở lại đào tạo nữa còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Việc mà đã làm rồi trở lại tạo không có, việc khác mà cần phải làm nữa cũng không có với bực Phíc-khú đã có tâm vắng lặng chơn chánh giải thoát rồi đó. Bao nhiêu sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp tất cả mỗi thứ mà đáng mong mỏi và không đáng mong mỏi không thể làm cho Tâm của bực đã giải thoát vững vàng chắc chắn phải rúng động đặng như núi toàn bằng tảng đá vẫn không lay động vì gió cũng như thế đó. Bởi vì Phíc-khú ấy quán thấy các thứ tâm chỉ là sự tiêu mất”. Thế này là vẫn nghe chắc chắn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thế đó cũng không nên nói rằng việc mà đã làm cần trở lại tạo nữa vẫn có chớ gì!

250.

*     Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, những năm Pháp này nếu hiện hành đầy đủ thời phải hoàn toàn hư hại cho vị Phíc-khú bực thời giải thoát. Năm pháp đó ra sao? Như là sự vong hoài (rāmatā) trong cách đàm luận, sự vong hoài trong cách ngủ nghỉ, sự vong hoài trong lúc nằm ngồi, không quán cách nào cho tâm giải thoát. Này Chư Phíc-khú, chính là năm pháp này đây vẫn hiện hành đầy đủ hầu có sự hư hoại đến Phíc-khú bực thời giải thoát”. Thế vậy là vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó thì bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng chớ gì!

251.

*     Tự ngôn: Bực La Hán có sự vui thích trong công việc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán có sự vui thích trong công việc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn Ái, có Dục ái, nền tảng Dục ái, Dục ái triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn có sự vui thích trong cách đàm luận ... có sự vui thích trong cách ngủ nghỉ, có sự vui thích trong cách nằm ngồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn có sự vui thích trong cách nằm ngồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn có Ái, Dục ái, nguyên nhân Dục ái, Dục ái triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

252.

*     Tự ngôn: La Hán hoại lìa (ỷ hư) quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán khi hoại lìa quả La Hán bị cái chi xung đột mới hoại? Phản ngữ: bị Ái xung đột mới hoại.

*     Tự ngôn: Cách xung đột phát sanh do nương chi sanh ra? Phản ngữ: Phát sanh do nương tùy miên!

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn tùy miên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn tùy miên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn có Dục ái tùy miên, Phẫn nhuế tùy miên, Ngã mạn tùy miên, Tà kiến tùy miên, Hoài nghi tùy miên, Hữu ái tùy miên, Vô minh tùy miên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Bực La Hán bị Sân dính dấp mới hoại ... bị Si dính dấp mới hoại...

*     Tự ngôn: Sự dính dấp phát sanh bởi do chi? Phản ngữ: Phát sanh bởi do tùy miên.

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn tùy miên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn tùy miên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn Dục ái tùy miên ... Vô minh tùy miên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

253.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi La Hán hoại lìa quả La Hán có chi mồi nối ra? Phản ngữ: Ái dục mồi nối ra.

*     Tự ngôn: Thân kiến mồi nối ra phải chăng? Hoài nghi mồi nối ra phải chăng? Giới cấm thủ mồi nối ra phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sân mồi nối ra phải chăng? Si mồi nối ra phải chăng? Thân kiến mồi nối ra phải chăng? Hoài nghi mồi nối ra phải chăng? Giới cấm thủ mồi nối ra phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

254.

*     Tự ngôn: Bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán vẫn còn chấp chứa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán nghỉ chất chứa rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn trừ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn chấp cứng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn rửa ráy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn ham muốn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn hạn chế cái tối phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn tối tăm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn chất chứa cũng không phải, đang nghỉ chất chứa cũng không phải, nhưng là bực đã nghỉ chất chứa vững vàng có phải vậy chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực La Hán đang còn chất chứa cũng chẳng phải, đang nghỉ chất chứa cũng chẳng phải; chỉ là người đã nghỉ chất chứa vững vàng, cũng chớ nên nói bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

*     Tự ngôn: Bực La Hán còn đang trừ cũng chẳng phải, còn đang chấp cứng cũng chẳng phải, chỉ là bực đã trừ tuyệt vững vàng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù rằng bực La Hán còn đang trừ cũng chẳng phải, còn đang chấp cứng cũng chẳng phải, chỉ là bực đã tuyệt vững vàng, cũng chớ nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng!

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn rửa ráy cũng chẳng phải, đang còn ưa muốn cũng chẳng phải, chỉ là bực đã rửa ráy vững vàng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đang còn rửa ráy cũng chẳng phải, đang còn ham muốn cũng chẳng phải, chỉ là bực đã rửa ráy vững vàng thời chớ nên nói bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

*     Tự ngôn: Bực La Hán đang còn hạn chế sự tối cũng chẳng phải, đang còn tối mê cũng không phải, chỉ là bực đã hạn chế sự tối vững vàng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đang còn hạn chế sự tối cũng chẳng phải, đang còn tối mê cũng chẳng phải, chỉ là bực đã hạn chế sự tối vững vàng thời không nên nói rằng bực La Hán hoại lìa quả La Hán đặng.

Dứt Hư Mạn Ngữ (Parihānikathā)

---

 

PHẠM HẠNH NGỮ (BRAHMACARIYAKATHA)

255.

*     Tự ngôn: Cách hành phạm hạnh không có trên Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chư thiên thành người khờ khạo, người câm, không mở mang, dùng tiếng câm, không đủ sức sẽ biết lời nói tốt xấu. Chư thiên không tín ngưỡng với Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, không đến ngồi gần với Đức Phật, không xin hỏi với Đức Phật, đã không ưa thích cách Phật Ngài đáp trong vấn đề. Chư thiên hết nương nghiệp bận bịu, phiền não bận bịu, quả bận bịu, không đức tin, không có sự ưa thích, thành người có vấn đề hèn, thành người không đáng tiến đến sự nhất định đường lối chơn chánh trong tất cả pháp thiện. Chư thiên là người sát mẫu, là người sát phụ, là người sát La Hán, là người chích Phật thân huyết, là người phá hòa hợp Tăng. Chư thiên là người sát sanh, là người trộm cướp, là người tà dâm, là người vọng ngôn, là người lưỡng thiệt, là người ác khẩu, là người ỷ ngữ, là người tham ác, là người Sân độc, là người Tà kiến ác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Chư thiên không thành người khờ khạo, không câm, mở mang, không dùng tiếng câm, đủ sự sẽ biết lời nói tốt xấu. Chư thiên tín ngưỡng với Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, nên đến ngồi gần với Đức Phật, nên xin hỏi với Đức Phật, đã ưa thích cách Phật Ngài đáp trong vấn đề. Chư thiên còn nương nghiệp bận bịu, phiền não bận bịu, quả bận bịu, có đức tin, có sự ưa thích, thành người có vấn đề sang, thành người đáng tiến tới sự nhất định đường lối chơn chánh trong tất cả pháp thiện. Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù rằng Chư thiên không phải người khờ khạo, không câm, thành người mở mang trí tuệ, không dùng tiếng câm, có đủ sức sẽ biết ý nghĩa của lời tốt xấu ... Chư thiên tín ngưỡng với Phật bảo ... cũng vẫn có Chánh kiến thời không nên nói rằng cách hành phạm hạnh không có với hàng Chư thiên.

256.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh vẫn có với Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Trong hàng Chư thiên đó có sự xuất gia, cạo tóc, đắp y, mang bát, có Phật ra đời, có Bích Chi Phật sanh ra, bốn đôi của Thinh Văn ra đời đặng trong nhóm Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

257.

*     Tự ngôn: Bởi trong nhóm Chư thiên không có cách xuất gia, như thế cách hành phạm hạnh mới không có trong nhóm Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trong chỗ nào có cách xuất gia thời chỗ đó có hành phạm hạnh, nếu chỗ nào không có cách xuất gia thì không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Trong chỗ nào có cách xuất gia thì trong chỗ đó có cách hành phạm hạnh. Nếu chỗ nào không có cách xuất gia thì chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào xuất gia thì người đó có hành phạm hạnh, nếu người nào không xuất gia thì không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

258.

*     Tự ngôn: Vì trong đám Chư thiên không có cách xuống tóc, thế vậy cách hành phạm hạnh mới không có trong đám Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trong chỗ nào có cách xuống tóc thì trong chỗ đó có cách hành phạm hạnh, nếu nơi nào không có cách xuống tóc thì nơi đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Trong chỗ nào có cách xuống tóc thì trong chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn chỗ nào không có cách xuống tóc thì chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào xuống tóc thì người đó có cách hành phạm hạnh còn người nào không có xuống tóc thì người đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

259.

*     Tự ngôn: Bởi trong hàng Chư thiên không có cách mặc y hoại sắc, thế vậy sự hành phạm hạnh mới không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nơi nào có cách mặc y hoại sắc thời chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn nơi nào không có cách mặc y hoại sắc thì nơi đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Chỗ nào có mặc áo cà sa thì chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn chỗ nào không có mặc áo cà sa thì chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào mặc áo cà sa thì người đó có cách hành phạm hạnh, còn người nào không mặc áo cà sa thời người đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

260.

*     Tự ngôn: Bởi trong hàng Chư thiên không có trì bình bởi vậy cách hành phạm hạnh mới không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Chỗ nào có cách trì bình thời chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn chỗ nào không có cách trì bình thời chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Chỗ nào có cách trì bình thì chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn chỗ nào không có cách trì bình thì chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nào trì bình thời người đó có cách hành phạm hạnh còn người nào không trì bình thời người đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

261.

*     Tự ngôn: Vì Đức Toàn Giác không ra đời trong cõi Chư thiên, bởi vậy sự hành phạm hạnh mới không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tất cả Bực Toàn Giác ra đời cõi nào thì trong cõi đó có cách hành phạm hạnh, còn bực Toàn Giác không ra đời cõi nào thì cõi ấy không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đức Toàn Giác ra đời trong chỗ nào thì chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn Ngài không ra đời chỗ nào thì chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giáng sinh nơi vườn Lâm Tì Ni, thành đạo dưới cội Bồ đề, Ngài chuyển Pháp Luân gần thành Ba La Nại. Trong những chỗ đó có cách hành tịnh hạnh, còn những chỗ khác không có cách hành tịnh hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

262.

*     Tự ngôn: Do Đức Độc Giác không ra đời trong hàng Chư thiên, bởi vậy cách hành phạm hạnh mới không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Độc Giác ra đời chỗ nào thì chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn chỗ nào Ngài không ra đời thì nơi đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vị Độc Giác ra đời chỗ nào thì trong chỗ đó có cách hành phạm hạnh, còn chỗ nào Ngài không ra đời thì chỗ đó không có cách hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Độc Giác ra đời nơi trung quốc thì chính nơi trung quốc đó mới có cách hành tịnh hạnh, còn chỗ khác chẳng có cách hành tịnh hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

263.

*     Tự ngôn: Do bốn đôi Thinh Văn không ra đời trong hàng Chư thiên, bởi thế cách hành phạm hạnh mới không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bốn đôi Thinh Văn ra đời chỗ nào thì chỗ đó có cách hành tịnh hạnh, còn chỗ nào mà bốn đôi Thinh Văn không ra đời thì chỗ đó không có cách hành tịnh hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Chỗ nào bốn đôi Thinh Văn ra đời thì chỗ đó có cách hành tịnh hạnh, còn chỗ nào không có bốn đôi Thinh Văn ra đời thì chỗ đó không có cách hành tịnh hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bốn đôi Thinh Văn ra đời trong đô thành thì dân chúng trong đô thành ấy có cách hành phạm hạnh, còn chỗ khác không có cách hành tịnh hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

264.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

265.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong nhân loại phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong mỗi nhóm nhân loại phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

266.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong hàng Chư thiên bực vô tưởng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

267.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong nhân loại phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong nhân loại, dân biên giới, người biên cương, kẻ dã man, người không biết ngữ ngôn là những nơi mà Phíc-khú, Phíc-khú Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đi không đến phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

268.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Cũng có chỗ có, cũng có chỗ không.

*     Phản ngữ: Trong hàng Chư thiên Vô tưởng, chỗ cách hành tịnh hạnh cũng có, chỗ không có (cách hành tịnh hạnh) cũng có và hàng Chư thiên Hữu tưởng chỗ có cách hành phạm hạnh cũng có, chỗ không có (cách hành phạm hạnh) cũng có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Trong hàng Chư thiên chỗ có cách hành phạm hạnh cũng có, cũng có chỗ không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Chỗ nào có, chỗ nào không? Tự ngôn: Cách hành phạm hạnh không có trong hàng Chư thiên Vô tưởng, nhưng có trong hàng Chư thiên Hữu tưởng.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh không có trong hàng Chư thiên Vô tưởng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh không có trong hàng Chư thiên Hữu tưởng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh có trong hàng Chư thiên Hữu tưởng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh có trong hàng Chư thiên Vô tưởng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

269.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh có trong nhân loại phải chăng? Tự ngôn: chỗ cũng có, có chỗ cũng không.

*     Phản ngữ: Trong dân chúng bọn người ở biên cương ranh giới, người rừng không biết ngữ ngôn, những chỗ mà Phíc-khú, Phíc-khú Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đi không đến; có chỗ có cách hành phạm hạnh, có chỗ cũng không có. Còn trong chỗ dân chúng ở đông đảo (trung quốc) cũng có chỗ có cách hành phạm hạnh, cũng có chỗ không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

270.

*     Phản ngữ: Trong nhân loại cũng có chỗ có cách hành phạm hạnh, cũng có chỗ không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Chỗ nào có, chỗ nào không có? Tự ngôn: Cách hành phạm hạnh không có nơi chỗ dân chúng ở biên cương ranh giới, người rừng không biết ngữ ngôn mà Phíc-khú, Phíc-khú Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đi không đến, còn trong chỗ dân chúng ở đông đảo mới có cách hành tịnh hạnh.

*     Phản ngữ: Cách hành tịnh hạnh không có trong thôn quê, dân ở biên cương ranh giới là người rừng không biết ngữ ngôn mà Phíc-khú, Phíc-khú Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đi không đến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh không có trong chỗ dân chúng đông đảo (trung quốc) phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh có trong chỗ dân chúng ở đông đảo (trung quốc) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh có trong chỗ dân chúng ở biên cương ranh giới; không có với người ở rừng không biết ngữ ngôn mà Phíc-khú, Phíc-khú Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đi không đến phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

271.

*     Phản ngữ: Cách hành phạm hạnh có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nhân loại ở Nam Thiện Bộ Châu ăn trùm cả nhân loại ở Bắc Cu Lô Châu và Chư thiên ở cõi Trời Đạo lợi bằng 3 cách. Ba cách đó là những chi? Một là hùng dũng, hai là có chánh niệm, ba là có cách hành phạm hạnh”. Thế vậy vẫn có nghe thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó có cách hành phạm hạnh cũng không có trong hàng Chư thiên chớ gì.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán tại Xá Vệ Quốc như vầy: “Có cách hành phạm hạnh nơi chỗ này phải chăng?” Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: hành phạm hạnh chỉ có nơi Xá Vệ Quốc, còn chỗ khác không có hành phạm hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai đã trừ năm phần triền thứ thấp rồi mà còn năm phần triền thứ vi tế (phần cao) trừ không đặng; khi Ngài lướt khỏi thế giới này đã sanh lên hàng Chư thiên kết quả sanh lên chỗ nào? Phản ngữ: Chính trong hàng Chư thiên đó.

*     Tự ngôn: Nếu mà bực Bất Lai trừ năm phần triền thứ thấp đặng rồi nhưng còn năm phần triền bậc cao trừ không đặng khi Ngài lướt khỏi thế giới này sanh lên hàng Chư thiên đó rồi sự kết quả cũng sanh trong hàng Chư thiên đó, thời không thể nói rằng cách hành phạm hạnh không có trong hàng Chư thiên.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ năm thứ triền bậc thấp đặng rồi nhưng chưa trừ năm thứ triền bậc cao, khi Ngài vượt khỏi thế giới này sanh trong hàng Chư thiên đó rồi có cách xuống tóc nơi chỗ nào ... xả trách nhiệm nơi chỗ nào ... có cách chăm chú biết Khổ nơi chỗ nào ... có cách trừ phiền não nơi chỗ nào ... có cách làm cho rõ thấu Diệt (nirodha) nơi chỗ nào ... có cách thấu đáo Pháp không buông lung nơi chỗ nào. Phản ngữ: Chính trong hàng Chư thiên đó ...

*     Tự ngôn: Nếu mà bực Bất Lai trừ triền bực thấp đặng rồi, mà chưa trừ năm thứ triền bậc cao đặng thì khi Ngài vượt khỏi thế giới này đã sanh trong hàng Chư thiên đó có cách thấu suốt pháp, chẳng buông lung trong hàng Chư thiên đó thì không nên nói rằng cách hành phạm hạnh không có trong hàng Chư thiên.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai trừ năm thứ triền bậc thấp đặng rồi, nhưng còn năm thứ triền bậc cao trừ không đặng, khi Ngài vượt khỏi thế giới này sanh trong hàng Chư thiên đó rồi, kết quả cũng sanh trong hàng Chư thiên đó, cách xả trách nhiệm cũng trong hàng Chư thiên đó, cách chăm chú biết Khổ cũng trong hàng Chư thiên đó, cách trừ phiền não cũng trong hàng Chư thiên đó, cách làm cho rõ Diệt cũng trong hàng Chư thiên đó, cách thấu suốt pháp không buông lung cũng trong hàng Chư thiên đó, thời do lý nào mà Ngài nói rằng cách hành phạm hạnh không có trong hàng Chư thiên?

*     Phản ngữ: Cũng do Bực Bất Lai làm cho rõ quả trong hàng Chư thiên đó bằng với đạo mà Ngài làm cho đã sanh chính trong thế giới này.

272.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai làm cho rõ quả trong hàng Chư thiên đó bằng đường lối mà Ngài đã làm cho sanh tại trong thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu làm cho rõ rệt quả trong thế giới này với đường lối mà Ngài đã làm cho sanh ra trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai làm cho rõ rệt quả trong hàng Chư thiên đó theo đường lối mà Ngài đã làm cho sanh trong thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai là người sẽ viên tịch trong thế giới này làm cho rõ rệt quả tại trong thế giới này theo đường lối mà Ngài đã làm cho sanh ra trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu làm cho quả tại thế giới này theo đường lối mà Ngài đã làm cho sanh ra trong thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai làm cho rõ rệt quả trong hàng Chư thiên đó theo đường lối mà Ngài làm cho đã sanh trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai là bực sẽ viên tịch trong thế giới này làm cho rõ rệt quả tại trong thế giới này theo đường lối mà Ngài đã làm cho phát sanh trong thế giới này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai làm cho rõ rệt quả trong hàng Chư thiên đó theo đường lối mà Ngài đã làm cho phát sanh trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

273.

*     Tự ngôn: Bực người trong đời này sẽ không còn đạo cho phát sanh và trừ tất cả phiền não nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực người hành hầu làm cho rõ quả Dự Lưu sẽ không còn làm cho đạo sanh ra và trừ tất cả phiền não nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người trong đời này sẽ không còn đạo sanh ra và trừ tất cả phiền não nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai ... Bực người hành để làm cho rõ quả La Hán sẽ không còn đạo sanh ra và trừ tất cả phiền não nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

274.

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Dự Lưu còn Đạo cho phát sanh và trừ tất cả phiền não không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực người trong đời này làm cho đạo phát sanh và trừ tất cả phiền não không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai ... Bực người hành để làm cho rõ quả La Hán làm cho đạo phát sanh và trừ tất cả phiền não không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực người trong đời này còn làm cho Đạo phát sanh và trừ tất cả phiền não không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

275.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai có bổn phận đã làm, có sự tu tiến đã trau dồi mới sanh lên trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán khỏi sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực La Hán khỏi sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán có kiếp mới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: La Hán có kiếp mới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán đã đến hữu (bhāva), ly hữu (vibhāva); đi đến thú hướng (gati), ly thú hướng; đi đến hành (saṅkhāra), đi đến ly hành; đi đến xuất thế, ly xuất thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

276.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai là người có bổn phận mà đã làm, có tu tiến mà đã trau dồi, nhưng thành người có trách nhiệm mà đã chưa bỏ xuống, lướt sanh trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai sẽ phải còn đạo sanh ra nữa hầu nghĩ phận sự phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

277.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai là người có bổn phận mà làm rồi có cách tu mà đã trau dồi, mà thành người có khổ chưa đặng quyết biết ... có phiền não chưa trừ, có diệt chưa đặng làm cho rõ ... có pháp không lừng lẫy mà chưa đặng thấu suốt lướt sanh trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực người Bất Lai sẽ phải còn đạo sanh ra nữa mới thấu suốt pháp không lừng lẫy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

278.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai là người có phận sự đã làm, có cách tu tiến đã trau dồi, nhưng thành người có trách nhiệm mà chưa xả, lướt sanh trong hàng Chư thiên đó sẽ không còn đạo sanh nữa hầu xả trách nhiệm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thành người có trách nhiệm mà không xả rồi viên tịch trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai là người có bổn phận đã làm rồi, có tu tiến đã trau dồi nhưng thành người có khổ mà chưa đặng chăm chú biết ... có phiền não mà chưa đặng trừ … có Diệt mà chưa đặng làm cho tỏ … có pháp không lừng lẫy mà chưa đặng thông thấu, lướt sanh trong hàng Chư thiên đó sẽ không còn đạo sanh nữa, để thấu suốt pháp không lừng lẫy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực có pháp không lừng lẫy đã không thấu suốt, mà viên tịch trong Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Con chương bị mũi tên bắn dù đi đặng xa cũng phải chết như thế nào thì bực Bất Lai cũng sẽ làm cho rõ quả trong hàng Chư thiên đó theo đạo mà Ngài đã đặng sanh trong thế giới này như thế.

*     Tự ngôn: Con chương mà bị mũi tên bắn dù đi đặng rất xa, cũng vẫn có mũi tên dính chết như thế nào, thì bực Bất Lai cũng vẫn có mũi tên dính viên tịch trong hàng Chư thiên đó do đạo mà Ngài đã đặng sanh trong thế giới này như vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Dứt Phạm hạnh ngữ

---

 

HẠN ĐỊNH NGỮ (ODHISOKATHA)

279.

*     Tự ngôn: Người trừ phiền não từ phần phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Nhập Lưu trừ những chi mới đặng thấy Khổ? Phản ngữ: Trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ và bao nhiêu phiền não trong phần đồng sanh[2].

*     Tự ngôn: Bực thành Dự Lưu chỉ một phần, một phần nữa không thành Dự Lưu, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn chạm bằng thân đối với quả Dự Lưu, một phần thành Dự Lưu Thất Lai (Sattakhattu-parama) ... Bực Dự Lưu Lục Lai (Kolaṅkola) ... Bực Dự Lưu Nhứt Lai (Ekabījī) ... sẵn có với sự kính trọng Phật bảo không lay động ... Pháp bảo ... Tăng bảo ... hiệp với giới thành nhứt định của Thánh Nhơn, nhưng một phần nữa không hiệp với giới nhứt định của Thánh Nhơn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Dự Lưu trừ đặng cái chi bằng cách thấy Tập? Phản ngữ: Trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ và tất cả phiền não cũng có thứ có phần trừ, có phần không trừ đặng.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu có phần thành Dự Lưu, có phần không thành Dự Lưu ... có phần hiệp với Thánh giới nhứt định, cũng có phần không hiệp với Thánh giới nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người hành hầu làm cho rõ quả Dự Lưu trừ đặng cái chi bằng cách thấy Diệt? Phản ngữ: Trừ Hoài nghi, Giới cấm thủ và tất cả phiền não cũng có thứ phần trừ, cũng có thứ phần không trừ đặng.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu có phần thành Dự Lưu, có phần không thành Dự Lưu ... có phần hiệp với Thánh giới nhứt định, có phần không hiệp với Thánh giới nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người hành hầu làm cho rõ quả Dự Lưu trừ đặng cái chi bằng cách thấy Đạo? Phản ngữ: Trừ Giới cấm thủ và bao nhiêu những phiền não chung bọn với nhau đặng.

*     Tự ngôn: Bực thành Dự Lưu chỉ một phần, còn một phần nữa không thành Dự Lưu, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn chạm bằng thân đối với quả Dự Lưu, nhưng một phần nữa vẫn không xúc chạm bằng thân với quả Dự Lưu, một phần thành Dự Lưu Thất Lai (Sattakhattuparama) ... Bực Dự Lưu Lục Lai (Kalaṅkola) ... Bực Dự Lưu Nhứt Lai (Ekabījī) ... sẵn có với sự kính trọng Phật bảo không lay động ... Pháp bảo ... Tăng bảo ... hiệp với giới Nhứt Định của Thánh nhân, nhưng một phần nữa không hiệp với giới Nhứt Định của Thánh nhân phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

280.

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai trừ đặng cái chi mới nhận thấy Khổ? Phản ngữ: Trừ Dục ái thứ thô, Sân độc thứ thô và những phiền não đồng sanh với nhau chung một bọn.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai có chỉ phần nào, còn một phần nữa không thành bực Nhứt Lai, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn đụng chạm với thân bằng quả Nhứt Lai, nhưng một phần nữa không đặng với thân của quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ rệt quả Nhứt Lai trừ đặng những chi mới thấy Tập? Phản ngữ: Trừ Dục ái thứ thô, Sân độc thứ thô và những phiền não một phần trong bọn với nhau đặng.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thành chỉ có một phần, còn một phần nữa không thành Nhứt Lai, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn đụng chạm với thân bằng quả Nhứt Lai, nhưng một phần khác vẫn không đụng chạm với thân bằng quả của Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai trừ những chi mà đặng thấy Diệt? Phản ngữ: Trừ Sân độc thứ thô, trừ những phiền não phần đồng sanh chung.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai chỉ một phần, còn một phần nữa không thành Nhứt Lai, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn chạm đến thân bằng quả Nhứt Lai nhưng một phần nữa vẫn không đụng chạm đến thân bằng quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đặng trừ cái chi mới thấy đặng Đạo? Phản ngữ: trừ Sân độc thứ thô và những phiền não một phần chung nhau đặng.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai chỉ một phần, một phần nữa không thành bực Nhứt Lai, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn chạm với thân bằng quả Nhứt Lai, nhưng một phần nữa vẫn không chạm với thân bằng quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

281.

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Bất Lai trừ đặng cái chi mới thấy đặng Khổ? Phản ngữ: Trừ Dục ái thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế và những phần phiền não đồng chung nhau đặng.

*     Tự ngôn: Người thành bực Bất Lai chỉ một phần, còn một phần nữa không thành bực Bất Lai, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... vẫn đụng chạm với thân bằng quả Bất Lai, nhưng một phần khác không đụng chạm với thân bằng quả Bất Lai. Một phần thành bực Bất Lai Trung bang bất hườn (Antarāparinibbāyī) ... Bực Sanh bang bất hườn (Upahaccapparinibbāyī) ... Bực Vô hành bang bất hườn (Asaṅkhāraparinibbāyī) ... Bực Hữu hành bang bất hườn (Sasaṅkhāraparinibbāyī) ... Bực Thượng lưu bang bất hườn (Uddhaṅsoto akaniṭṭhagāmī), nhưng một phần không thành bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Bất Lai trừ đặng cái chi mới thấy Tập? Phản ngữ: Trừ Dục ái thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế và phiền não thứ chung nhau đặng một nhân.

*     Tự ngôn: Người thành bực Bất Lai chỉ một phần, còn một phần nữa không thành bực Bất Lai ... một phần bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn ... một phần nữa không thành bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Bất Lai trừ đặng cái chi mới thấy Diệt (nirodha)? Phản ngữ: Trừ Sân độc thứ vi tế và những thứ phiền não chung nhau đặng một phần.

*     Tự ngôn: Người thành bực Bất Lai chỉ một phần, còn một phần nữa không thành bực Bất Lai ... một phần nữa thành bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn nhưng một phần nữa không thành bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả Bất Lai trừ đặng cái chi mới thấy đặng Đạo? Phản ngữ: Trừ những phần phiền não chung nhau đặng.

*     Tự ngôn: Bực người Bất Hườn chỉ một phần, còn một phần nữa không thành bực Bất Hườn, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... đụng chạm với thân bằng quả Bất Hườn, một phần khác không đụng với thân bằng quả Bất Hườn, một phần Bực Bất Lai Trung bang bất hườn (antarāparinibbāyī) ... Bực Sanh bang bất hườn (Upahaccaparinibbāyī) ... Bực Vô hành bang bất hườn (Asaṅkhāraparinibbāyī) ... Bực Hữu hành bang bất hườn (Sasaṅkhāraparinibbāyī) ... Bực Thượng Lưu Bất Hườn (Uddhaṅsoto akaniṭṭhagāmī), nhưng một phần nữa không thành bực Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

282.

*     Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả La Hán đặng trừ cái chi mới thấy Khổ? Phản ngữ: Trừ Sắc ái, Vô sắc ái, Ngã mạn, Phóng dật, Vô minh và những phần phiền não đồng chung nhau một phần đặng.

*     Tự ngôn: Bực thành La Hán chỉ một phần, còn một phần nữa không thành La Hán, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... đụng chạm với thân bằng quả La Hán, nhưng một phần nữa không đụng chạm với thân bằng quả La Hán, đã thành bực xa lìa Ái, Sân, Si, đã làm xong việc đáng làm, đã buông trách nhiệm, chứng rồi tự lợi, tuyệt hết mọi cơ quan ràng buộc trong hữu (bhāva) rồi, đã thoát ly đặc biệt do kiểu chơn chánh, đã rõ then chốt, lấp rồi mương rãnh, đã nhổ sào nêu, thành người không có then chốt chận, đến bực Thánh, hạ cờ ngã mạn, đã để xuống gánh nặng, dứt rồi dây buộc, chiến thắng đặc biệt rồi, Ngài đã quyết hiểu Khổ, trừ Tập rồi, đã làm cho Diệt rõ rệt, Đạo đã sanh, hiểu những pháp đáng biết tột, chăm chú rõ pháp đáng chăm chú biết, đã trừ những pháp đáng trừ, bồi bổ những pháp đáng bồi bổ, làm cho rõ rệt những pháp đáng làm rõ rệt, một phần làm cho rõ rệt những pháp đáng làm cho rõ rệt, nhưng phần khác không làm cho rõ rệt với pháp đáng làm cho rõ rệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả La Hán đặng trừ cái chi mới thấy Tập? Phản ngữ: Trừ Sắc ái, Vô sắc ái, Ngã mạn, Phóng dật, Vô minh và những phần phiền não đồng chung đặng.

*     Tự ngôn: Bực thành La Hán chỉ một phần, còn một phần nữa không thành La Hán, … một phần làm cho rõ rệt, nhưng một phần nữa chưa làm cho rõ rệt với pháp đáng làm cho rõ rệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho rõ quả La Hán do đặng trừ cái chi mới thấy Diệt (nirodha)? Phản ngữ: Do trừ Ngã mạn, Phóng dật, Vô minh và những phiền não một phần chung nhau đặng.

*     Tự ngôn: Người thành La Hán chỉ một phần, còn một phần nữa không thành La Hán, ... một phần đã làm cho rõ rệt với pháp đáng làm cho rõ rệt, nhưng còn một phần nữa chưa làm cho rõ rệt với pháp đáng làm cho rõ rệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bực người hành để làm cho tỏ rõ quả La Hán do đặng trừ cái chi mới thấy Đạo? Phản ngữ: Trừ Phóng dật, Vô minh và những phiền não phần đồng nhau đặng.

*     Tự ngôn: Bực La Hán chỉ một phần, còn một phần nữa không thành La Hán, một phần đắc chứng ... đặng riêng phần ... đến trụ chỉ ... làm cho rõ ... vẫn vào đến ... đụng chạm với thân của quả La Hán, nhưng một phần nữa không đụng chạm với thân bằng quả La Hán, đã thành bực xa lìa Ái, Sân, Si, đã làm xong việc đáng làm, đã buông trách nhiệm, chứng rồi tự lợi, tuyệt hết mọi cơ quan ràng buộc trong hữu (bhāva) rồi, đã thoát ly đặc biệt do kiểu chơn chánh, đã rõ then chốt, lấp rồi mương rãnh, đã nhổ sào nêu, thành người không có then chốt chận, đến bực Thánh, hạ cờ ngã mạn, đã để xuống gánh nặng, dứt rồi dây buộc, chiến thắng đặc biệt rồi, Ngài đã quyết hiểu Khổ, trừ Tập rồi, đã làm cho Diệt rõ rệt, Đạo đã sanh, hiểu những pháp đáng biết tột, chăm chú rõ pháp đáng chăm chú biết rõ, đã trừ những pháp đáng trừ, bồi bổ những pháp đáng bồi bổ, làm cho rõ rệt những pháp đáng làm rõ rệt, một phần làm rõ rệt những pháp đáng làm cho rõ rệt, nhưng phần khác không làm cho rõ rệt với pháp đáng làm cho rõ rệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

283.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng người trừ phiền não đặng từ phần phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Người có trí nên hạn chế ô uế của mình mỗi lần từ chút, mỗi sát-na theo thứ lớp, như thợ vàng trui ten của vàng”; thế này vẫn có nghe chắc thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó người trừ phiền não cũng từ phần chớ gì!

284.

*     Tự ngôn: Người trừ phiền não từ phần đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Đầy đủ với cách đến, đầy đủ bằng cách thấy của Ngài (bực Dự Lưu) trừ đặng 3 pháp tức là Thân kiến, Hoài nghi và Giới cấm thủ mà vẫn còn chừng một chút Ngài cũng xa lìa tứ ác thú, không thể thành người tạo nghiệp vô gián”, như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói người trừ phiền não từ phần đặng chớ gì!

285.

*     Tự ngôn: Người trừ phiền não từ phần đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, trong khi nào pháp nhãn xa lìa bụi trần phát sanh rồi, đối với Thánh Thinh Văn cho rằng mỗi một thứ nào lẽ thường có sanh ra tất cả thứ đó dĩ nhiên phải có diệt mất, này chư Phíc-khú, hiệp với cách phát sanh của Dự Lưu đó là Thánh Thinh Văn trừ đặng ba cách triền tức là Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ”, như đây vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói người trừ phiền não từ phần đặng chớ gì?

Dứt Hạn định ngữ (Odhisokathā)

---

 

[1] Tiên: Chư thiên

[2] Từ “đồng sanh” sau này được Trưởng lão Tịnh Sự điều chỉnh thành “câu sanh”.


NGUYÊN TRỪ NGỮ (JAHATIKATHA)

286.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Trừ đặng dứt hết trừ đặng không còn dư, trừ đặng luôn cả gốc rễ, trừ đặng luôn cả Ái, trừ đặng luôn cả Thùy miên, trừ đặng bằng Thánh tuệ, trừ đặng bằng Thánh đạo, trừ luôn pháp bất chuyển động và pháp làm cho sáng tỏ quả Bất Hườn đều trừ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
287.
  • Tự ngôn: Phàm phu hạn chế Dục ái và Sân độc đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Hạn chế đặng hết tuyệt, hạn chế đặng không còn phần còn dư, hạn chế đặng không còn mầm mống, hạn chế đặng luôn gốc rễ, hạn chế đặng luôn Ái, hạn chế luôn đặng có Thùy miên, hạn chế bằng Thánh trí, hạn chế bằng Thánh đạo, hạn chế cho đến pháp bất chuyển động, làm cho rõ quả Bất Hườn đều hạn chế đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
288.
  • Tự ngôn: Bực hành để làm cho rõ quả Bất Hườn trừ Dục ái, và Sân độc đặng và người đó trừ đặng hết cả, trừ đặng không còn dư sót ... đến pháp làm cho rõ quả Bất Hườn cũng trừ luôn đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng và họ trừ đặng hết không còn dư ... đến pháp làm cho rõ quả Bất Hườn cũng trừ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
289.
  • Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ rệt quả Bất Hườn đè nén Dục ái, Sân độc đặng và người đó đè nén đặng hết không còn dư ... đến pháp làm cho rõ quả Bất Hườn đè nén cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Phàm phu đè nén Dục ái, Sân độc đặng và họ đè nén đặng hết không còn dư ... đến pháp làm cho rõ quả Bất Hườn đè nén cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
290.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng, nhưng họ sẽ không thể trừ hết đặng, sẽ trừ không còn dư cũng không thể đặng, trừ không còn nộc cũng không đặng, sẽ trừ luôn gốc rễ cũng không đặng, sẽ trừ luôn Ái cũng chẳng đặng, sẽ trừ luôn tùy miên cũng chẳng đặng, sẽ trừ bằng Chánh tuệ cũng chẳng đặng, sẽ trừ bằng Thánh đạo cũng chẳng đặng, sẽ trừ luôn pháp không lừng lẫy và pháp sẽ làm cho rõ rệt quả Bất Hườn cũng chẳng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Bất Hườn, trừ Dục ái và Sân độc đặng, nhưng người đó sẽ trừ đặng hết trọi cũng không đặng ... sẽ làm cho rõ quả Bất Hườn cũng không đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
291.
  • Tự ngôn: Người hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đè nén Dục ái và Sân độc đặng, nhưng người đó sẽ đè nén cho hết trọi cũng không đặng và đè nén không còn phần dư cũng không đặng ... đến pháp sẽ làm cho rõ quả Bất Hườn đè nén cũng không đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
292.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Do bằng đạo nào? Phản ngữ: Bằng đạo phần Sắc giới.
  • Tự ngôn: Đạo phần Sắc giới thành nhân đưa ra khỏi hành vi luân hồi cho đến rốt ráo, cho đến đắc chứng, cho đến Níp-bàn, không thành cảnh của lậu, không thành cảnh của triền, không thành cảnh của phược, không thành cảnh của bộc, không thành cảnh của phối, không thành cảnh của cái, không thành cảnh của khinh thị, không thành cảnh của thủ và không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Đạo phần Sắc giới không thành nhân đưa ra khỏi luân hồi không thành pháp đưa đến rốt ráo, không thành pháp đưa đến đắc chứng, không thành pháp đến Níp-bàn, thành cảnh của lậu, thành cảnh của triền ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Dù rằng đạo phần Sắc giới không thành nhân đưa ra khỏi luân hồi, không thành pháp đưa đến rốt ráo, không thành pháp đưa đến đắc chứng, không thành pháp đưa đến Níp-bàn, thành cảnh của lậu, thành cảnh của triền ... thành cảnh của phiền não thời không nên nói rằng phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng bằng đạo thuộc phần Sắc giới.
293.
  • Tự ngôn: Người hành đặng làm cho rõ quả Bất Hườn trừ Dục ái và Sân độc đặng bằng đạo Bất Hườn và đạo đó là nhân đưa khỏi luân hồi, đưa đến rốt ráo đến đắc chứng, đến Níp-bàn, không thành cảnh của lậu, không thành cảnh của triền ... không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng bằng đạo phần Sắc giới và đạo đó thành nhân đưa ra khỏi luân hồi đến rốt ráo cho đến đắc chứng, cho đến Níp-bàn, không thành cảnh của lậu, không thành cảnh của triền ... không thành cảnh của Phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
294.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng bằng đạo phần Sắc giới và đạo đó không thành nhân đưa ra khỏi luân hồi, không thành pháp đưa đến rốt ráo, không thành pháp đưa đến đắc chứng, không thành pháp đưa đến Níp-bàn, thành cảnh của lậu, thành cảnh của triền ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Người hành đặng làm cho rõ quả Bất Hườn trừ Dục ái và Sân độc đặng bằng đạo Bất Hườn nhưng đạo đó không thành nhân đưa ra khỏi luân hồi, không thành pháp đưa đến rốt ráo, không thành pháp đưa đến đắc chứng, không thành pháp đưa đến Níp-bàn, thành cảnh của lậu, thành cảnh của triền ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
295.
  • Tự ngôn: Phàm phu thành người xa lìa sự mong mỏi trong tất cả dục, vẫn sống trong quả Bất Hườn, đầy đủ với cách đắc pháp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Vẫn sống trong quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
296.
  • Tự ngôn: Phàm phu thành người xa lìa mong mỏi trong tất cả dục, vẫn sống trong quả Bất Hườn, hiệp với cách đắc pháp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Còn làm cho tất cả đạo sanh ra đặng không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Còn làm cho tất cả đạo sanh ra đặng không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Làm cho rõ tất cả quả Sa Môn đặng không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Làm cho rõ tất cả quả Sa Môn đặng không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Thành cách hội hợp của tam xúc, của tam thọ, của tam tư (cetanā), của tam tâm, của tam tín, của tam cần, của tam niệm, của tam định, của tam tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
297.
  • Tự ngôn: Phàm phu là bực xa lìa sự mong mỏi trong tất cả dục, vẫn sống trong quả Bất Hườn chung với cách đắc pháp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Bằng đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Bằng đạo Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Bằng đạo nào? Phản ngữ: Bằng đạo Bất Lai.
  • Tự ngôn: Trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ đặng bằng đạo Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ đặng bằng đạo Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài chứng quả Dự Lưu do trừ tam triền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài chứng quả Dự Lưu do trừ tam triền thời không nên nói là trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ đặng do đạo Bất Lai ...
  • Tự ngôn: Trừ Dục ái thứ thô, Sân độc thứ thô đặng bằng đạo Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
  • Tự ngôn: Trừ Dục ái thứ thô, Sân độc thứ thô đặng bằng đạo Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài chứng quả Nhứt Lai do sự nhẹ nhàng của Dục ái và Sân độc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài chứng quả Nhứt Lai do sự nhẹ nhàng của Dục ái và Sân độc thời không nên nói rằng trừ Dục ái thứ thô và Sân độc thứ thô bằng đạo Bất Lai đặng.
298.
  • Tự ngôn: Phàm phu là bực xa lìa sự mong mỏi trong tất cả dục (kāma), vẫn sống trong quả Bất Lai đồng với cách chứng pháp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Mỗi một người nào chứng pháp đặng thì những người ấy vẫn sống trong quả Bất Lai đồng với cách chứng pháp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
299.
  • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng phàm phu trừ Dục ái và Sân độc đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Trong thuở quá khứ có sáu vị Giáo chủ là người có quyền tước, hết sự giận hờn, trong sạch do bi, thoát ly sự liên quan trong dục, đã chận Ái dục vào đến thế giới Phạm Thiên”, như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Phản ngữ: Nếu thế đó, phàm phu cũng trừ Ái dục và Sân độc đặng chớ gì?
300.
  • Tự ngôn: Phàm phu trừ Ái dục và Sân độc đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Chư Phíc-khú chính là vị Phíc-khú tên Hảo Nhân (Sunetta) có số thọ như thế, sống dài như thế, nhưng cũng không đặng giải thoát sanh, lão, tử, sầu, khóc, khổ, ưu, ai. Ta tường thuật rằng là người không giải thoát khổ, điều đó tại sao? Cũng bởi không biết theo, không thấu suốt cả bốn pháp. Bốn pháp đó ra sao? Bởi không biết theo, không thấu suốt thứ Giới mà thành Thánh, thứ Định mà thành Thánh, thứ Tuệ mà thành Thánh, thứ Giải thoát mà thành Thánh. Này chư Phíc-khú, Giới mà thành Thánh, Định mà thành Thánh, Tuệ mà thành Thánh, Giải thoát mà thành Thánh, đây ta đã biết theo thấu suốt rồi, ta mới rút Ái trong hữu (bhāva) bỏ rồi, và Ái mà sẽ dẫn đi đến hữu (bhāva) đã hết, thế vậy không có đời mới”. Như đây (Đức Thế Tôn phán lời này rồi sau mới thuyết bài kể sau như vầy) những pháp này tức là Giới, Định, Tuệ, Giải thoát là pháp cao thượng mà Đức Cồ-Đàm (Gotama) bực có quyền tước, Ngài đã hiểu theo rồi, Đức Phật Ngài đã hiểu tột bằng cách như thế này nên Ngài mới truyền bá Pháp cho chư Phíc-khú là Giáo chủ bực đã làm tận nơi khổ, bậc có mắt huệ, đã hoàn toàn vắng lặng. Như đây là vẫn có nghe chắc thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
  • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng phàm phu trừ Ái dục và Sân độc đặng chớ gì!
Dứt Nguyên trừ ngữ (Jahatikathā)
---

 

CHƯ TÀI VẬT NGỮ (SABBAMATTHITIKATHA)

301.

*     Tự ngôn: Tất cả vật chất vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có trong thân thể phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có trong mỗi thời phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có nương hình mạo tất cả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có trong pháp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất vẫn có tất cả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả nói là vẫn có do giải rằng không hiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất tất cả vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu vật chất không có cũng gọi là vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sự thấy như thế là nhận thấy vật chất tất cả vẫn có như đây thành Tà kiến và nói nhận thấy như nói đây thành Chánh kiến, thế vậy cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

302.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quá khứ đã diệt rồi, đã lìa rồi, đã thay đổi rồi, mặt trời lặn rồi tiêu mất hết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà quá khứ đã diệt rồi, lìa rồi, đổi thay rồi, mặt trời đã lặn, đã tiêu mất thời không nên nói là vẫn có quá khứ.

303.

*     Tự ngôn: Bậc Bất Hườn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vị lai chưa sanh, chưa thành, chưa ra đủ, chưa sanh ra, chưa phát ra, chưa hiện ra phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà vị lai chưa sanh, chưa thành, chưa có đủ, chưa sanh ra, chưa phát ra, chưa hiện bày thời không nên nói có vị lai.

304.

*     Tự ngôn: Hiện tại đang có, hiện tại chưa diệt, chưa lìa mất, chưa biến đổi, chưa lặn, chưa tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ chưa diệt, chưa xa lìa, chưa đổi thay, chưa lặn mất, chưa tiêu diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

305.

*     Tự ngôn: Hiện tại vẫn có, hiện tại đã sanh, đã thành tựu, đã sanh đủ, đã sanh ra, đã phát ra, đã hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vị lai vẫn có, vị lai đã sanh, đã thành tựu, đã sanh đủ, đã sanh ra, đã phát ra, đã hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

306.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ đã diệt, đã lìa khỏi đã đổi thay, đã lặn rồi, đã tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hiện tại vẫn có, hiện tại đã diệt mất, đã lìa rồi, đã đổi thay, mặt trời đã lặn, đã tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

307.

*     Tự ngôn: Vị lai vẫn có, vị lai chưa sanh, chưa thành tựu, chưa sanh đủ, chưa sanh ra, chưa phát ra, chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hiện tại vẫn có, hiện tại chưa sanh, chưa thành tựu, chưa sanh đủ, chưa sanh ra, chưa phát sanh, chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

308.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ đã diệt, đã lìa, đã đổi thay, đã lặn mất, đã tiêu diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà sắc quá khứ đã diệt, đã tiêu mất, cũng không nên nói rằng sắc quá khứ vẫn có.

309.

*     Tự ngôn: Sắc vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc vị lai chưa sanh, chưa thành tựu, chưa sanh đủ, chưa phát sanh, chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà sắc vị lai chưa sanh ... chưa hiện bày thời không nên nói vẫn có sắc vị lai.

310.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại vẫn có, sắc hiện tại chưa diệt, chưa lìa mất, chưa đổi thay, chưa lặn mất, chưa tiêu diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ chưa diệt, chưa thay đổi, chưa lặn, chưa tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

311.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại vẫn có, sắc hiện tại đã sanh, sắc hiện tại đã thành tựu, sanh đủ rồi, đã sanh ra, đã phát sanh đã hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc vị lai vẫn có, sắc vị lai đã sanh, đã thành tựu, sanh đủ rồi, đã sanh ra, đã phát sanh, đã hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

312.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ đã diệt, đã lìa, đã thay đổi, đã lặn mất, đã tiêu mất rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại vẫn có, sắc hiện tại đã diệt, đã lìa, đã đổi thay, đã lặn mất, tiêu mất rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

313.

*     Tự ngôn: Sắc vị lai vẫn có, sắc vị lai chưa sanh, chưa thành tựu, chưa sanh đủ, chưa sanh ra, chưa phát ra, chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại vẫn có, sắc hiện tại chưa sanh, chưa thành tựu, chưa sanh đủ, chưa sanh ra, chưa phát ra, chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

314.

*     Tự ngôn: Thọ quá khứ vẫn có phải chăng? ... Tưởng ... Hành ... Thức quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ đã diệt, đã lìa, đã đổi thay, đã lặn, tiêu diệt rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thức quá khứ đã diệt ... tiêu mất rồi, thời không nên nói rằng vẫn có thức quá khứ.

315.

*     Tự ngôn: Thức vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức vị lai chưa sanh, chưa thành tựu, chưa sanh đủ, chưa sanh ra, chưa phát ra, chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà thức vị lai chưa sanh ... chưa hiện bày thời không nên nói có thức vị lai.

316.

*     Tự ngôn: Thức hiện tại vẫn có, thức hiện tại chưa diệt ... chưa tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ chưa diệt ... chưa tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

317.

*     Tự ngôn: Thức hiện tại vẫn có, thức hiện tại đã sanh, đã thành tựu ... đã hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức vị lai vẫn có ... thức vị lai đã sanh ... đã hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

318.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ đã diệt ... tiêu mất rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức hiện tại vẫn có, thức hiện tại diệt rồi ... tiêu mất rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

319.

*     Tự ngôn: Thức vị lai vẫn có, thức vị lai chưa sanh ... chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức hiện tại vẫn có, thức hiện tại chưa sanh ... chưa thành tựu ... chưa hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

320.

*     Tự ngôn: Chế định là hiện tại, hoặc là sắc cũng vậy. Gọi sắc hoặc gọi hiện tại cũng vậy, chung quy chỉ đến sắc hiện tại, cả hai chế định này cũng đồng một thứ, một ý nghĩa đều đồng như nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại khi diệt rồi vẫn bỏ cách thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vẫn bỏ cách thành sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

321.

*     Tự ngôn: Chế định gọi hiện tại hoặc gọi sắc cũng vậy, gọi sắc hoặc gọi hiện tại cũng vậy, chung lại chỉ là sắc hiện tại, cả hai chế định này cũng một thứ, ý nghĩa có một, đều đồng như nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại khi diệt rồi vẫn không bỏ cách thành sắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vẫn không bỏ cách thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Vải trắng cả hai chế định này cũng một thứ, ý nghĩa có một đều đồng như nhau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vải trắng khi bị nhuộm vẫn bỏ cách thành vải trắng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vẫn bỏ cách thành vải phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Chế định gọi trắng hoặc gọi vải cũng vậy. Gọi vải hoặc gọi trắng cũng vậy, chung quy là vải trắng, cả hai chế định này cũng một thứ, ý nghĩa có một, đều đồng như nhau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vải trắng khi bị nhuộm vẫn không bỏ cách thành vải phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vẫn không bỏ cách thành vải trắng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

322.

*     Tự ngôn: Sắc nhuộm không bỏ sự thành sắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc trường tồn, vĩnh viễn chịu đựng, có cách không thay đổi là thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Bởi sắc nhuộm bỏ sự thành sắc, thế đó sắc mới gọi là không bền, không trường tồn, không chịu đựng, có cách đổi thay là thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà sắc không trường tồn, không vĩnh viễn, không chịu đựng, có cách đổi thay là lẽ thường thời không nên nói rằng sắc vẫn không bỏ sự thành sắc.

323.

*     Tự ngôn: Vì Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn, như thế Níp-bàn mới gọi là thường, vĩnh viễn chịu đựng, có cách không thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vì sắc vẫn không bỏ sự thành sắc như thế sắc mới gọi là thường hằng còn chịu đựng, có cái không thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

324.

*     Tự ngôn: Vì sắc vẫn không bỏ sự thành sắc, như thế sắc mới gọi là vô thường, không bền vững, không chịu đựng, có đổi thay là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vì Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn, thế thì Níp-bàn phải gọi là vô thường, không còn hoài, không chịu đựng, có đổi thay là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

325.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vị lai vẫn có, vị lai vẫn không bỏ sự thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hiện tại vẫn có, hiện tại vẫn không bỏ sự thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

326.

*     Tự ngôn: Vị lai vẫn có, vị lai vẫn không bỏ sự thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

327.

*     Tự ngôn: Hiện tại vẫn có, hiện tại vẫn không bỏ sự thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

328.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quá khứ trường tồn vĩnh viễn chịu đựng có cái không thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Quá khứ vô thường, không trường tồn, không chịu đựng, có cái thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà quá khứ vô thường, không trường tồn chẳng chịu đựng, có cái đổi thay là lẽ thường thời không nên nói rằng quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ.

329.

*     Tự ngôn: Vì Níp-bàn vẫn có, Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn, thế vậy Níp-bàn mới gọi là trường tồn vĩnh viễn, bền vững, có cái không thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vì quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ, thế vậy quá khứ mới gọi là trường tồn, vĩnh viễn, hằng còn, bền chắc, có cái không thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

330.

*     Tự ngôn: Vì quá khứ vẫn có, quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ, thế thì quá khứ mới gọi là vô thường, không bền vững, không chịu đựng, có cái thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vì Níp-bàn vẫn có, Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn, bởi vậy Níp-bàn mới gọi là vô thường không bền vững, không chịu đựng, có cái thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

331.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc vị lai vẫn có, sắc vị lai vẫn không bỏ sự thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại vẫn có, sắc hiện tại vẫn không bỏ sự thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

332.

*     Tự ngôn: Sắc vị lai vẫn có, sắc vị lai vẫn không bỏ sự thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

333.

*     Tự ngôn: Sắc hiện tại vẫn có, sắc hiện tại vẫn không bỏ sự thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

334.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ trường tồn, vĩnh viễn, kiên cố, không thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ không bền, không vĩnh viễn, không kiên cố, có cái thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà sắc quá khứ vô thường ... dĩ nhiên thay đổi thời không nên nói rằng sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ.

335.

*     Tự ngôn: Níp-bàn vẫn có, Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn, Níp-bàn trường tồn vĩnh cửu kiên cố tự nhiên không thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ, sắc quá khứ trường tồn, vĩnh viễn kiên cố tự nhiên không thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

336.

*     Tự ngôn: Sắc quá khứ vẫn có, sắc quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ, sắc quá khứ không bền không trường tồn, không kiên cố, dĩ nhiên thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Níp-bàn vẫn có, Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn thời Níp-bàn không trường tồn, không bền vững, không kiên cố dĩ nhiên thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

337.

Tự ngôn: Thọ quá khứ vẫn có ... Tưởng quá khứ vẫn có ... Hành quá khứ vẫn có ... phải chăng?

338.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có ... Thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức vị lai vẫn có, thức vị lai không bỏ sự thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức hiện tại vẫn có, thức hiện tại vẫn không bỏ sự thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

339.

*     Tự ngôn: Thức vị lai vẫn có, thức vị lai vẫn không bỏ sự thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

340.

*     Tự ngôn: Thức hiện tại vẫn có, thức hiện tại vẫn không bỏ sự thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

341.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ trường tồn vĩnh viễn, kiên cố, tự nhiên không thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thức quá khứ không bền, không vĩnh viễn, không kiên cố, thay đổi dĩ nhiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà thức quá khứ vô thường, không vĩnh viễn, không nhứt định, có cái thay đổi lẽ thường, thời không nên nói rằng thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ.

342.

*     Tự ngôn: Níp-bàn vẫn có, Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn thời Níp-bàn trường tồn, vĩnh viễn, kiên cố, tự nhiên không thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ, thời Thức quá khứ trường tồn, vĩnh viễn, kiên cố, tự nhiên không thay đổi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

343.

*     Tự ngôn: Thức quá khứ vẫn có, thức quá khứ vẫn không bỏ sự thành quá khứ, nên thức quá khứ vô thường, không vĩnh viễn, không kiên cố, thay đổi là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Níp-bàn vẫn có, Níp-bàn vẫn không bỏ sự thành Níp-bàn thời Níp-bàn là vô thường, không vĩnh viễn, không kiên cố, thay đổi như thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

344.

*     Tự ngôn: Quá khứ chẳng phải thật tướng mà hẳn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dù rằng quá khứ phi thật tướng hẳn có thì nói rằng quá khứ vẫn có cũng sai, hay là nói rằng chơn tướng phi quá khứ vẫn có; câu nói quá khứ vẫn có cũng sai.

*     Tự ngôn: Vị lai phi thật tướng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu mà vị lai phi thật tướng vẫn có; câu nói vị lai vẫn có cũng sai, nếu mà nói thật tướng phi vị lai vẫn có; câu nói vị lai vẫn có cũng sai.

345.

*     Tự ngôn: Thành vị lai rồi mới thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vị lai cũng chính là cái đó, hiện tại cũng chính là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vị lai cũng chính là cái đó, hiện tại cũng chính là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất thành (vị lai) rồi thành (hiện tại) gọi là đã thành mới vẫn thành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vật chất thành (vị lai) rồi thành (hiện tại) gọi là thành rồi, mới vẫn thành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vật chất không thành (vị lai) rồi không thành (hiện tại) là đã không thành, vẫn không thành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

346.

*     Tự ngôn: Thành hiện tại rồi mới thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hiện tại cũng chính cái đó, vị lai cũng chính là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hiện tại cũng chính là cái đó, vị lai cũng chính là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ thành (hiện tại) rồi thành (quá khứ) gọi là đã thành đồ thành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ thành (hiện tại) rồi thành (vị lai) gọi là thành mới vẫn thành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ không thành (hiện tại) rồi không thành (vị lai) mà không thành rồi không thành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

347.

*     Tự ngôn: Thành vị lai rồi mới thành hiện tại, thành hiện tại rồi mới thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vị lai cũng chính là cái đó, hiện tại cũng chính là cái đó, quá khứ cũng chính là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vị lai cũng chính là cái đó, hiện tại cũng chính là cái đó, quá khứ cũng chính là cái đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ mà thành (vị lai) rồi thành (hiện tại) gọi là thành mới đang thành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đồ mà thành (vị lai) rồi thành (hiện tại) gọi là thành mới đang thành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ mà thành (vị lai) rồi không thành (hiện tại) gọi là thành rồi không thành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

348.

*     Tự ngôn: Nhãn quá khứ vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng tác ý quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người thấy sắc quá khứ đặng bằng nhãn quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhĩ quá khứ vẫn có, thinh, Nhĩ thức, hư không, tác ý quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nghe tiếng quá khứ đặng bằng nhĩ quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Tỷ quá khứ vẫn có, khí, Tỷ thức, gió, tác ý quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người hưởi hơi quá khứ đặng bằng tỷ quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thiệt quá khứ vẫn có, vị, Thiệt thức, nước, tác ý quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nếm vị quá khứ đặng bằng lưỡi quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thân quá khứ vẫn có, xúc, Thân thức, đất, tác ý quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người đụng chạm xúc quá khứ đặng bằng thân quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ý quá khứ vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật chất (vatthu), tác ý quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người biết cảnh pháp quá khứ đặng bằng ý quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

349.

*     Tự ngôn: Nhãn vị lai vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người nhận thấy sắc vị lai đặng bằng nhãn vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhĩ ... Tỷ ... Thiệt ... Thân ... Ý vị lai vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người biết cảnh pháp vị lai đặng bằng ý vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

350.

*     Tự ngôn: Nhãn hiện tại vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý hiện tại vẫn có, người thấy sắc hiện tại đặng bằng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn quá khứ vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý vẫn có ... Người thấy sắc quá khứ đặng bằng nhãn quá khứ chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhĩ ... Tỷ ... Thiệt ... Thân ... Ý Níp-bàn vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý Níp-bàn vẫn có, người biết sắp Níp-bàn đặng bằng ý hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ý quá khứ vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý quá khứ vẫn có, người biết cảnh pháp quá khứ đặng bằng ý quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

351.

*     Tự ngôn: Nhãn hiện tại vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý hiện tại vẫn có, người thấy sắc hiện tại đặng bằng nhãn hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn vị lai vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý vị lai có, người thấy sắc vị lai đặng bằng nhãn vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhĩ ... Tỷ ... Thiệt ... Thân ... Ý hiện tại vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý hiện tại vẫn có, người biết cảnh pháp hiện tại đặng bằng ý hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ý vị lai vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý vị lai vẫn có, người rõ cảnh pháp vị lai đặng bằng ý vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

352.

*     Tự ngôn: Nhãn quá khứ vẫn có sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý quá khứ vẫn có, nhưng người thấy sắc quá khứ bằng nhãn quá khứ không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn hiện tại vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý hiện tại vẫn có, những người thấy sắc hiện tại không đặng bằng nhãn hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhĩ ... Tỷ ... Thiệt ... Thân ... Ý quá khứ vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý quá khứ vẫn có, nhưng người biết cảnh pháp quá khứ không đặng bằng ý quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ý hiện tại vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật (vatthu), tác ý hiện tại vẫn có, nhưng người biết cảnh pháp hiện tại không đặng bằng ý hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

353.

*     Tự ngôn: Nhãn vị lai vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý vị lai vẫn có, nhưng người thấy sắc vị lai không đặng bằng nhãn vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn hiện tại vẫn có, sắc, Nhãn thức, ánh sáng, tác ý hiện tại vẫn có, nhưng người thấy sắc hiện tại không đặng bằng nhãn hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhĩ ... Tỷ ... Thiệt ... Thân ... Ý vị lai vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật chất (vatthu), tác ý vị lai vẫn có, nhưng người biết cảnh pháp vị lai không đặng bằng ý vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ý hiện tại vẫn có, cảnh pháp, ý thức, vật chất (vatthu), tác ý hiện tại vẫn có, nhưng người biết cảnh pháp hiện tại không đặng bằng ý hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

354.

*     Tự ngôn: Trí quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người làm việc đáng làm bằng trí đặng, bằng trí quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó..

*     Tự ngôn: Người làm việc mà đáng làm bằng trí đặng, bằng trí quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho rõ Diệt đặng, còn làm cho Đạo phát sanh đặng bằng trí quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

355.

*     Tự ngôn: Trí vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người làm việc đáng làm bằng trí đặng, bằng trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Người làm việc đáng làm bằng trí đặng bằng trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Người chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho rõ Diệt đặng, làm cho đạo sanh đặng bằng trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

356.

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, người làm việc đáng làm bằng trí đặng, bằng trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí quá khứ vẫn có, người làm việc đáng làm bằng trí đặng, bằng trí quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, người chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho Diệt tỏ rõ đặng, còn làm cho Đạo sanh đặng, bằng trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí quá khứ vẫn có, người chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho rõ Diệt đặng, còn làm cho Đạo sanh đặng bằng trí quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, người làm việc đáng làm bằng trí đặng, với trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí vị lai vẫn có, người làm việc đáng làm bằng trí với trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, người chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho rõ Diệt đặng, còn làm cho đạo sanh đặng bằng trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí vị lai vẫn có, người chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho rõ Diệt đặng, còn làm cho đạo phát sanh đặng bằng trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

357.

*     Tự ngôn: Trí quá khứ vẫn có, nhưng người làm việc đáng làm bằng trí không đặng với trí đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, nhưng người làm việc đáng làm bằng trí không đặng với trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Trí quá khứ vẫn có, người chăm chú hiểu rõ Khổ không đặng, trừ Tập không đặng, làm cho rõ Diệt không đặng, còn làm cho Đạo phát sanh không đặng bằng trí quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, nhưng người chăm chú biết Khổ không đặng, trừ Tập không đặng, làm cho rõ Diệt không đặng, còn làm cho Đạo phát sanh không đặng bằng trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

358.

*     Tự ngôn: Trí vị lai vẫn có, nhưng người làm việc đáng làm bằng trí không đặng với trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có nhưng người làm việc đáng làm bằng trí không đặng với trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Trí vị lai vẫn có, nhưng người chăm chú biết Khổ không đặng, trừ Tập không đặng, làm cho rõ Diệt không đặng, còn làm cho Đạo phát sanh không đặng với trí vị lai đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Trí hiện tại vẫn có, nhưng người chăm chú biết Khổ không đặng, trừ Tập không đặng, làm cho rõ Diệt không đặng, không làm cho đạo phát sanh đặng do trí hiện tại đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

359.

*     Tự ngôn: Ái dục quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán gọi là có Ái dục (rāga) bằng Ái dục đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sân quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán gọi là có Sân bằng Sân đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Si quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán gọi là có Si bằng Si đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngã mạn quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: La Hán gọi là có Ngã mạn bằng Ngã mạn quá khứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Tà kiến quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán gọi là có Tà kiến bằng Tà kiến đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán gọi rằng có Hoài nghi bằng Hoài nghi đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hôn trầm quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán gọi là có Hôn trầm bằng Hôn trầm đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Phóng dật quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán gọi là có Phóng dật bằng Phóng dật đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó..

*     Tự ngôn: Vô tàm quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán gọi là có Vô tàm bằng Vô tàm đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Vô úy quá khứ của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực La Hán gọi là có Vô úy bằng Vô úy đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

360.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của bực Bất Lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai gọi là có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi, Giới cấm thủ, Ái dục thứ vi tế, Sân độc thứ quá khứ của bực Bất Lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Bất Lai gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

361.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của bực Nhứt Lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai gọi là có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Hoài nghi, Giới cấm thủ, Ái dục (rāga) thứ thô, Sân độc thứ thô quá khứ của Nhứt Lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Nhứt Lai gọi là có tâm Sân bằng Sân đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

362.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của bực Dự Lưu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Bực Dự Lưu gọi là có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi, Giới cấm thủ, Ái dục (rāga) sa đọa khổ thú, sân sa đọa khổ thú, si sa đọa khổ thú thuộc quá khứ của bực Dự Lưu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Dự Lưu gọi là có Si bằng Si đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

363.

*     Tự ngôn: Ái tình (rāga) quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có ái tình bằng ái tình đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ái tình (rāga) quá khứ của La Hán vẫn có, bực La Hán gọi là có ái tình bằng ái tình đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

*     Tự ngôn: Sân quá khứ của phàm phu vẫn có ... Vô úy quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có Vô úy bằng Vô úy đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vô úy quá khứ của La Hán vẫn có, bực La Hán gọi là có Vô úy bằng Vô úy đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

364.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của Bất Lai vẫn có, bực Bất Lai gọi kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của phàm phu vẫn có ... Sân thứ vi tế quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sân thứ vi tế quá khứ của Bất Lai vẫn có, bực Bất Lai mà có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

365.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là người có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của bực Nhứt Lai vẫn có, bực Nhứt Lai có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của phàm phu vẫn có ... Sân độc thứ quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sân độc thứ thô quá khứ của Nhứt Lai vẫn có, bực Nhứt Lai gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

366.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có sở kiến (diṭṭhi) bằng sở kiến đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của Dự Lưu vẫn có, bực Dự Lưu gọi là có kiến thức bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của phàm phu vẫn có ... Si đọa khổ thú quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có Si bằng Si đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Si đọa khổ thú của Dự Lưu vẫn có, bực Dự Lưu gọi là có Si bằng Si đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

367.

*     Tự ngôn: Tình dục (rāga) quá khứ của La Hán vẫn có, nhưng La Hán gọi là có tình dục (rāga) bằng tình dục đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Tình dục quá khứ của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu gọi là có tình dục bằng tình dục đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Sân quá khứ của La Hán vẫn có ... Vô úy quá khứ của La Hán vẫn có, nhưng La Hán gọi là có Vô úy bằng Vô úy đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Vô úy quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có Vô úy bằng Vô úy đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

368.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của Bất Lai vẫn có, nhưng Bực Bất Lai gọi là có kiến thức (Diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có kiến thức bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của Bất Lai vẫn có ... Sân độc thứ vi tế quá khứ của Bất Lai vẫn có, nhưng bực Bất Lai gọi là có tâm Sân bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sân độc thứ vi tế quá khứ của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

369.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của bực Nhứt Lai vẫn có, bực Nhứt Lai gọi là có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của phàm phu vẫn có, phàm phu gọi là có kiến thức bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của bực Nhứt Lai vẫn có ... Sân độc thứ thô quá khứ của bực Nhứt Lai vẫn có, nhưng Bực Nhứt Lai gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sân độc thứ thô quá khứ của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu gọi là có tâm Sân độc bằng Sân độc đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

370.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của Dự Lưu vẫn có, nhưng Dự Lưu gọi là có kiến thức (diṭṭhi) bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân kiến quá khứ của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu có kiến thức bằng kiến thức đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Hoài nghi quá khứ của Dự Lưu vẫn có ... Si đọa khổ thú quá khứ của Dự Lưu vẫn có, nhưng bực Dự Lưu gọi là có Si bằng Si phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Si đọa khổ thú quá khứ của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu gọi là có Si bằng Si đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

371.

*     Tự ngôn: Tay quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi tay quá khứ vẫn có cách nắm lại, cách buông ra, vẫn còn hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Chân quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Khi chân quá khứ vẫn có cách bước đi cách thối lui, vẫn còn hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Đầu gối quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu đầu gối quá khứ vẫn có, thời cách giở lên, cách đi vẫn còn hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Cái bụng quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu cái bụng quá khứ vẫn có thời sự đói, sự khát, vẫn còn hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thân quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Thân quá khứ còn vào đến cách giở lên và cách lạy quỳ, cho đến cách cắt và làm hoại, còn thành miếng mồi của quạ, của kên kên, của diều phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thuốc độc phải vào, khí giới phải vào, lửa phải vào, trong thân quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thân quá khứ còn sẽ giam cầm, gông cùm, còng xiềng, giam bằng khám, quản thúc trong một thôn, trong một ấp, vẫn còn biện bày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

372.

*     Tự ngôn: Nước quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người làm việc cần dùng nước đặng bằng nước đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Lửa quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người làm việc mà cần dùng lửa đặng bằng lửa đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Gió quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Người làm việc cần dùng gió đặng bằng gió đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

373.

*     Tự ngôn: Sắc uẩn quá khứ vẫn có, Sắc uẩn vị lai vẫn có, Sắc uẩn hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sắc uẩn thành ba phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Ngũ uẩn thành quá khứ vẫn có, Ngũ uẩn thành vị lai vẫn có, Ngũ uẩn thành hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Uẩn thành mười lăm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

374.

*     Tự ngôn: Nhãn xứ quá khứ vẫn có, Nhãn xứ vị lai vẫn có, Nhãn xứ hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn xứ thành ba phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thập nhị xứ thành quá khứ vẫn có, Thập nhị xứ thành vị lai vẫn có, Thập nhị xứ thành hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Xứ thành ba mươi sáu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

375.

*     Tự ngôn: Nhãn giới quá khứ vẫn có, Nhãn giới vị lai vẫn có, Nhãn giới hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn giới thành ba phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Thập bát giới thành quá khứ vẫn có, Thập bát giới thành vị lai vẫn có, Thập bát giới thành hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Giới thành năm mươi bốn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

376.

*     Tự ngôn: Nhãn quyền quá khứ vẫn có, Nhãn quyền vị lai vẫn có, Nhãn quyền hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nhãn quyền thành ba phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Nhị thập nhị quyền thành quá khứ vẫn có, Nhị thập nhị quyền thành vị lai vẫn có, Nhị thập nhị quyền thành hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Quyền thành sáu mươi sáu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

377.

*     Tự ngôn: Đức Chuyển luân thánh vương quá khứ vẫn có, đức Chuyển luân thánh vương vị lai vẫn có, đức Chuyển luân thánh vương hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cả ba vị Chuyển luân thánh vương đều đồng gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

378.

*     Tự ngôn: Phật Toàn Giác quá khứ vẫn có, Phật Toàn Giác vị lai vẫn có, Phật Toàn Giác hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cả ba vị Phật Toàn Giác đều đồng gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

379.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Sự vật vẫn thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Sự vật vẫn thành quá khứ cũng có, không thành quá khứ cũng có.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (nigaha) nếu mà quá khứ vẫn có, sự vật vẫn có thành quá khứ cũng có, không thành quá khứ cũng có. Do nhân đó, quá khứ cũng không thành quá khứ, sự vật phi quá khứ cũng thành quá khứ mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói rằng quá khứ vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành quá khứ cũng có, không thành quá khứ cũng có. Do nhân đó, quá khứ cũng không thành quá khứ, sự vật phi quá khứ cũng thành quá khứ như thế vậy sai”. Nhưng không nên nói rằng quá khứ không thành quá khứ, đồ đạc phi quá khứ thành quá khứ; cũng không nên nói rằng quá khứ vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành quá khứ cũng có, không thành quá khứ cũng có, mà tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng quá khứ vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành quá khứ vẫn có, không thành quá khứ vẫn có”. Do nhân đó quá khứ cũng không thành quá khứ, đồ đạc phi quá khứ cũng thành quá khứ, như thế vậy là sai.

380.

*     Tự ngôn: Vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ đạc vẫn có thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Đồ đạc vẫn có, thành vị lai cũng có, không thành vị lai cũng có.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (nigaha) nếu mà quá khứ vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành vị lai cũng có, không thành vị lai cũng có. Do nhân đó vị lai cũng không thành vị lai, đồ đạc khi vị lai cũng thành vị lai, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói rằng vị lai vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành vị lai cũng có, không thành vị lai cũng có, do nhân đó vị lai cũng không thành vị lai, đồ đạc phi vị lai cũng thành vị lai, như vậy là sai”. Nhưng không nên nói rằng vị lai không thành vị lai, đồ đạc phi vị lai thành vị lai, cũng không nên nói rằng vị lai vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành vị lai cũng có, không thành vị lai cũng có, do nhân đó vị lai cũng không thành vị lai, đồ đạc phi vị lai cũng thành vị lai, như thế vậy là sai. Nhưng không nên nói rằng vị lai không thành vị lai, đồ đạc phi vị lai thành vị lai, cũng không nên nói rằng vị lai vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành vị lai cũng có, không thành vị lai cũng có, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vậy: “Phải nói rằng vị lai vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành vị lai cũng có, không thành vị lai cũng có. Do nhân đó vị lai cũng không thành vị lai, đồ đạc phi vị lai cũng thành vị lai như thế là sai”

381.

*     Tự ngôn: Hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ đạc vẫn có thành hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Đồ đạc có thành hiện tại cũng có, không thành hiện tại cũng có.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (nigaha) nếu mà hiện tại vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành hiện tại vẫn có, không thành hiện tại cũng có. Do nhân đó hiện tại cũng không thành hiện tại, đồ đạc phi hiện tại cũng không thành hiện tại; mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vậy: “Phải nói rằng hiện tại vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành hiện tại vẫn có, không thành hiện tại vẫn có. Do nhân đó hiện tại cũng không thành hiện tại, đồ đạc không thành hiện tại cũng thành hiện tại, như thế là sai”. Nhưng không nên nói rằng hiện tại không thành hiện tại, đồ đạc phi hiện tại thành hiện tại, cũng không nên nói rằng hiện tại vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành hiện tại cũng có, không thành hiện tại cũng có, mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vậy: “Phải nói rằng hiện tại vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành hiện tại cũng có, không thành hiện tại vẫn có”. Do nhân đó hiện tại cũng không thành hiện tại, đồ đạc phi hiện tại cũng thành hiện tại, như thế là sai.

382.

*     Tự ngôn: Níp-bàn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đồ đạc vẫn có thành Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Đồ đạc vẫn có, thành Níp-bàn vẫn có, không thành Níp-bàn vẫn có.

*     Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (Nigaha) nếu mà Níp-bàn vẫn có, đồ đạc vẫn có, thành Níp-bàn cũng có, không thành Níp-bàn cũng có. Do nhân đó Níp-bàn cũng không thành Níp-bàn, đồ đạc phi Níp-bàn cũng không thành Níp-bàn; mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vầy: “Phải nói rằng Níp-bàn vẫn có, vật chất vẫn có, thành Níp-bàn vẫn có, không thành Níp-bàn vẫn có”. Do nhân đó Níp-bàn cũng không thành Níp-bàn, vật chất phi Níp-bàn cũng thành Níp-bàn, như thế là sai. Nhưng không nên nói rằng Níp-bàn không thành Níp-bàn, vật chất phi Níp-bàn thành Níp-bàn, cũng không nên nói rằng Níp-bàn vẫn có, vật chất vẫn có, thành Níp-bàn vẫn có, không thành Níp-bàn vẫn có; mà Ngài tường thuật trong vấn đề đó như vậy: “Phải nói rằng Níp-bàn vẫn có, vật chất vẫn có, thành Níp-bàn vẫn có, không thành Níp-bàn vẫn có”. Do nhân đó Níp-bàn cũng không thành Níp-bàn, vật chất phi Níp-bàn cũng thành Níp-bàn, như thế là sai.

383.

*     Phản ngữ: Không nên nói rằng quá khứ vẫn có, vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, mỗi một Sắc nào luôn cả quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa, như thế đều gọi là Sắc uẩn. Mỗi một Thọ nào ... mỗi một Tưởng nào ... mỗi một Hành nào ... mỗi một Thức nào ... luôn cả quá khứ, vị lai, hiện tại hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa, như thế đều gọi là Thức uẩn”. Như vậy vẫn có nghe chắc thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó thì quá khứ vẫn có, vị lai vẫn có chớ gì!

384.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có, vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, đường lối của ngôn ngữ, đường lối của tên, đường lối của chế định, cả ba cách này bực Sa Môn phạm chí biết tất cả không phủ nhận, không từng phủ nhận, không ghét gớm, sẽ không ghét gớm, không đặng chống đối; thế nào là ba cách:

a.    Sắc nào đã luống qua, đã diệt đi, lìa khỏi rồi, đã thay đổi, sắc đó họ tường thuật với nhau rằng đặng có rồi, họ nói rằng đặng có rồi, họ chế định rằng đặng có rồi, nhưng sắc đó họ không tường thuật với nhau rằng vẫn có, họ không tường thuật với nhau sẽ có. Thọ nào ... Tưởng nào ... Hành nào ... Thức nào đã luống qua, đã diệt rồi, đã lìa rồi, thay đổi rồi, thức đó họ tường thuật với nhau rằng đặng có rồi, họ gọi rằng đặng có rồi, họ định đặt rằng có rồi, nhưng thức đó họ không tường thuật nhau rằng vẫn có, họ không tường thuật nhau rằng sẽ có.

b.   Sắc nào chưa sanh, chưa hiện bày, sắc đó họ tường thuật nhau rằng sẽ có, họ gọi rằng sẽ có, họ định đặt rằng sẽ có, sắc đó họ không tường thuật rằng vẫn có, họ không tường thuật nhau đặng có rồi. Thọ nào ... Tưởng nào ... Hành nào ... Thức nào chưa sanh, chưa hiện bày thức đó họ tường thuật rằng sẽ có, họ gọi rằng sẽ có, họ định đặt rằng sẽ có, nhưng không nói nhau rằng vẫn có, họ không nói nhau rằng đặng có.

c.    Sắc nào đã sanh, hiện bày rồi, sắc đó họ nói nhau vẫn có, họ kêu là vẫn có, họ định đặt rằng vẫn có, nhưng họ không nói nhau rằng đặng có rồi, họ không nói nhau rằng sẽ có. Thọ nào ... Tưởng nào ... Hành nào ... Thức nào đã sanh, hiện khởi, thức đó họ gọi nhau rằng vẫn có, họ kêu rằng vẫn có, họ cho rằng vẫn có, nhưng thức đó họ không nói nhau là đã đặng có, không gọi nhau là sẽ có.

Này chư Phíc-khú, lối của ngôn, lối của ngữ, lối của danh, của định đặt, chính những ba cách này mà Sa Môn, Phạm Chí, bực tất cả không phủ nhận, không từng phủ nhận, không đáng ghét gớm, sẽ không ghét gớm, không đặng chống đối, dù người thành ra cao kỳ, dân cường ngạnh, kẻ vô nhân kiến, vô hành kiến, vô kiến cũng đặng trong hệ đường lối ngữ, đường lối danh, đường lối định đặt, cả ba cách này mà ta không nên chê bai, ta không nên chống đối, điều đó do nhân chi? Bởi sợ cách chê trách, cách tranh biện; Cách này vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

* Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng quá khứ vẫn có, vị lai vẫn có chớ gì.

385.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài Phắc-Gú-Ná (Phagguna) hỏi Đức Thế Tôn như vầy: “Bạch Ngài, người sau khi Chư Phật đã viên tịch qua rồi, có pháp cơ quan cao siêu mà đã chặt rồi, có đường mà đã chặt rồi, có luân hồi mà đã hạn chế, lướt tất cả khổ đặng rồi cho hiện bày, nên cho hiện bày, đặng bằng nhãn nào thì nhãn đó vẫn có phải chăng? ... Thiệt đó vẫn có phải chăng? ... Người mà sau khi Chư Phật đã viên tịch rồi, có pháp cơ quan cao siêu mà chặt rồi, có đường lối mà đã chặt, có luân hồi mà đã hạn chế, đã lướt đặng tất cả khổ cho hiện bày, phải cho hiện bày đặng bằng ý nào thì ý đó vẫn có phải chăng? Này Phắc-Gú-Ná, người mà sau khi Chư Phật đã viên tịch rồi, có pháp cơ quan cao mà đã chặt, có đường lối mà đã chặt, có luân hồi mà đã hạn chế, đã lướt đặng tất cả khổ cho hiện bày đặng bằng nhãn nào thời nhãn đó vẫn không có đâu ... Thiệt đó vẫn không có đâu ... Người mà sau khi Chư Phật đã viên tịch có pháp cơ quan cao siêu mà đã chặt, có đường lối mà đã chặt, có luân hồi mà đã hạn chế, lướt khỏi tất cả khổ đặng rồi cho hiện bày, phải cho hiện bày đặng bằng ý nào thì ý đó vẫn không có đâu”. Như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó không nên nói rằng quá khứ vẫn có chớ gì!

386.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Ngài Nanh-Đá-Cá (Nandaka) có tường thuật rằng: “Tham đặng có rồi trong khi trước, điều đó đã thành sự không tốt. Tham đó bây giờ vẫn không có, điều đó thành sự tốt. Sân đã đặng có rồi trong khi trước ... Si đã đặng có rồi trong khi trước, điều đó đã đặng thành sự không tốt. Si đó bây giờ vẫn không có, điều đó thành sự tốt”. Như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng quá khứ vẫn có chớ gì!

387.

*     Phản ngữ: Chớ nên nói rằng quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nếu mà sự vui, sự hớn hở, sự muốn vẫn có trong Đoàn thực, Thức cũng đã vững vàng, đã tươi tốt, do Đoàn thực đó thức đã vững vàng, đã tươi tốt trong chỗ nào thì sự đè nén của danh sắc cũng vẫn có trong nơi ấy, sự đè nén của danh sắc vẫn có trong chỗ nào thì sự tăng tiến của Hành tất cả cũng vẫn có trong nơi đó, sự tăng tiến của chư hành vẫn có trong nơi nào thì cách sanh trong tân hữu (bhāva) sau này cũng vẫn có trong nơi đó, cách sanh của tân hữu (bhāva) sau này cũng vẫn có trong nơi nào thì Sanh, Lão, Tử cũng còn vẫn có sau này, trong khi đó Sanh, Lão, Tử còn vẫn có sau này trong nơi nào thời ta tường thuật rằng chỗ đó còn có Sầu, còn có bụi bặm, còn có sự ép chế. Này chư Phíc-khú, nếu mà sự mừng, sự phấn khởi, sự ham muốn vẫn còn trong Xúc thực ... trong Tư thực ... trong Thức thực thì ta cho rằng chỗ đó còn có Sầu, có bụi bặm, có sự ép uổng, có sự bực bội. Như thế vẫn có nghe chắc thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó thì cũng không nên nói rằng vị lai vẫn có chớ gì ?

388.

*     Tự ngôn: Vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nếu mà sự vui thích, sự hớn hở, sự ham muốn vẫn không có với Đoàn Thực, thì Thức cũng đã không đình trụ, đã không tươi tốt do với Đoàn thực đó, Thức đã không cố gắng vững vàng, đã không tươi tốt trong nơi nào thì sự dằn xuống của danh sắc cũng vẫn không có trong chỗ đó. Nếu sự dằn xuống của danh sắc không có nơi chỗ nào thì sự tăng tiến của chư hành cũng vẫn không có nơi chỗ đó, sự tăng tiến của chư hành không có nơi chỗ nào thì cách sanh trong tân hữu (bhāva) sau này cũng không có nơi chỗ đó. Cách sanh tân hữu (bhāva) sau này không có nơi chỗ nào thì Sanh, Lão, Tử sau này cũng không có nơi chỗ đó. Mà Sanh, Lão, Tử sau này không có nơi chỗ nào thì ta nói rằng chỗ đó không có Sầu, không có trần lao, không có sự áp bức. Này chư Phíc-khú, nếu mà sự vui, sự mừng, sự phớn phở, sự ham muốn không có với Xúc thực ... với Tư thực... với Thức thực ... Ta nói rằng chỗ đó không có Sầu, không có trần lao, không có áp bức. Thế vậy vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng vị lai vẫn có chớ gì ?

Dứt Chư tài vật ngữ

---

 

QUÁ KHỨ UẨN NGỮ (ATITAKHANDHADIKATHA)

389.                                                                                                                              

*     Phản ngữ: Quá khứ thành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Quá khứ thành xứ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Quá khứ thành giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Quá khứ thành uẩn, xứ, giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

390.

*     Phản ngữ: Vị lai thành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Vị lai thành xứ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Vị lai thành giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Vị lai thành uẩn, xứ, giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

391.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ thành uẩn, quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Hiện tại thành xứ, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ thành xứ, quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Hiện tại thành giới, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ thành giới, quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, xứ, giới; hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Quá khứ thành uẩn, xứ, giới; quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

392.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai thành uẩn, vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Hiện tại thành xứ, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai thành xứ, vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Hiện tại thành giới, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai thành giới, vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, xứ, giới, hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Vị lai thành uẩn, xứ, giới, vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

393.

*     Phản ngữ: Quá khứ thành uẩn, quá khứ vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Quá khứ thành xứ, quá khứ vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành xứ, hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Quá khứ thành giới, quá khứ vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành giới, hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Quá khứ thành uẩn, xứ, giới; quá khứ vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, xứ, giới; hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

394.

*     Phản ngữ: Vị lai thành uẩn, vị lai vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Vị lai thành xứ ... Vị lai thành giới ... Vị lai thành uẩn, xứ, giới, vị lai vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Hiện tại thành uẩn, xứ, giới, hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

395.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành xứ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành uẩn, xứ, giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

396.

*     Phản ngữ: Sắc vị lai thành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc vị lai thành xứ phải chăng? ... Sắc vị lai thành giới phải chăng? ... Sắc vị lai thành uẩn, xứ, giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

397.

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành uẩn, sắc hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành uẩn, sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành xứ ... Sắc hiện tại thành giới ... Sắc hiện tại thành uẩn, xứ, giới, sắc hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành uẩn, xứ, giới, sắc quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

398.

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành uẩn, sắc hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc vị lai thành uẩn, sắc vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành xứ ... Sắc hiện tại thành giới ... Sắc hiện tại thành uẩn xứ giới, sắc hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc vị lai thành uẩn xứ giới, sắc vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó..

399.

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành uẩn, sắc quá khứ không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành uẩn, sắc hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc quá khứ thành xứ ... Sắc quá khứ thành giới ... Sắc quá khứ thành uẩn xứ giới, sắc quá khứ vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành uẩn xứ giới, sắc hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc vị lai thành uẩn, sắc vị lai vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành uẩn, sắc hiện tại không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Sắc vị lai thành xứ ... Sắc vị lai thành giới ... Sắc vị lai thành uẩn xứ giới, sắc vị lai vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Sắc hiện tại thành uẩn xứ giới, sắc hiện tại vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

400.

*     Phản ngữ: Thọ quá khứ ... Tưởng quá khứ ... Hành quá khứ ... Thức quá khứ thành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Thức quá khứ thành xứ ... Thức quá khứ thành giới ... Thức quá khứ thành uẩn xứ giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

401.

*     Phản ngữ: Thức vị lai thành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Thức vị lai thành xứ ... Thức vị lai thành giới ... Thức vị lai thành uẩn xứ giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

402.

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành uẩn, thức hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức quá khứ thành uẩn, thức quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành xứ ... Thức hiện tại thành giới ... Thức hiện tại thành uẩn xứ giới, thức hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức quá khứ thành uẩn, xứ, giới; thức quá khứ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

403.

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành uẩn, thức hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức vị lai thành uẩn, thức vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành xứ ... Thức hiện tại thành giới, thức hiện tại thành uẩn xứ giới, thức hiện tại vẫn có phải chăng?

*     Phản ngữ: Thức vị lai thành uẩn, xứ, giới; thức vị lai vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

404.

*     Phản ngữ: Thức quá khứ thành uẩn, thức quá khứ không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành uẩn, thức hiện tại không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Thức quá khứ thành xứ ... Thức quá khứ thành giới ... Thức quá khứ thành uẩn xứ giới, thức quá khứ không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành uẩn, xứ, giới; thức hiện tại vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

405.

*     Phản ngữ: Thức vị lai thành uẩn, thức vị lai không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành uẩn, thức hiện tại không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

*     Phản ngữ: Thức vị lai thành xứ ... Thức vị lai thành giới ... Thức vị lai thành uẩn, xứ, giới; thức vị lai vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Thức hiện tại thành uẩn, xứ, giới; thức hiện tại không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

406.

*     Tự ngôn: Chớ nên nói rằng uẩn xứ giới thành quá khứ, hoặc thành vị lai, như thế vẫn không có đâu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, lối của ngữ, cách kêu tên, lối chế định. Ba cách này mà Sa Môn, Bà La Môn và tất cả bực hiểu biết không phủ nhận, không từng phủ nhận, không đáng ghét, sẽ không ghét, không đặng bày bác ...”. Như thế vẫn có nghe thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Nếu thế đó uẩn, xứ, giới thành quá khứ và vị lai như thế cũng vẫn có chớ gì!

407.

*     Phản ngữ: Uẩn xứ giới mà thành quá khứ và vị lai những thế không có đâu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, sắc mỗi một thứ mà thành quá khứ, hiện tại, vị lai ... như thế gọi là Sắc uẩn. Thọ mỗi thứ nào ... Tưởng mỗi thứ nào ... Hành mỗi thứ nào ... Thức mỗi thứ nào, mà thành quá khứ, hiện tại, vị lai. Như thế gọi là Thức uẩn”. Như vậy vẫn có nghe thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.

*     Phản ngữ: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng uẩn, xứ, giới thành quá khứ và vị lai, như vậy vẫn không có chứ gì!

Dứt Quá khứ uẩn ngữ

---

 

THÍCH HỢP NGỮ (EKACCAMATTHITIKATHA)

408.

*     Tự ngôn: Quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Hoặc thứ có quá khứ, hoặc thứ không có quá khứ.

*     Tự ngôn: thứ quá khứ đã diệt rồi, có thứ quá khứ chưa diệt mất, có thứ đã lìa, có thứ chưa lìa mất, có thứ sụp tối rồi, có thứ chưa sụp tối, có thứ đã tiêu mất, có thứ chưa tiêu mất phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

409.

*     Tự ngôn: Quá khứ có phần vẫn có, có phần không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Pháp mà chưa cho quả chỗ thành quá khứ có thứ vẫn có, có thứ vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

410.

*     Tự ngôn: Quá khứ có thứ cũng có, có thứ cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Pháp thành quả rồi mới thành quá khứ cũng có thứ có, có thứ không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

411.

*     Tự ngôn: Quá khứ cũng có thứ có, cũng có thứ không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Pháp mà không thành quả quá khứ có thứ cũng có, có thứ cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

412.

*     Tự ngôn: Quá khứ cũng có thứ có, cũng có thứ không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Cái chi có, cái chi không có? Phản ngữ: Pháp mà chưa thành chỗ thành quá khứ vẫn có, pháp mà đã cho quả thì là quá khứ không có.

413.

*     Tự ngôn: Pháp mà chưa cho quả đã luống qua, những pháp ấy vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Pháp mà đã thành quả qua khỏi rồi, pháp ấy vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

414.

*     Tự ngôn: Pháp mà chưa cho quả luống qua rồi, những pháp đó vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Pháp mà không có quả đã luống qua rồi, những pháp đó còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

415

*     Tự ngôn: Pháp mà đã cho quả qua khỏi rồi, những pháp đó không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*     Tự ngôn: Pháp mà chưa cho quả đã luống qua, những pháp đó vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

*     Tự ngôn: Pháp mà đã cho quả luống qua rồi, những pháp đó vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

*